Có những con thuyền ra biển lớn không phải vì bờ bên kia đã nhìn thấy, mà bởi người trên thuyền tin rằng phía trước còn một chân trời rộng lớn hơn. Hành trình phát triển của Việt Nam hôm nay cũng có phần nào như thế. Đất nước đang bước vào một chặng đường mới với những mục tiêu lớn hơn, một mô hình phát triển mới và yêu cầu ngày càng rõ ràng về năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Trong hành trình ấy, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là người đi cùng, mà sẽ là một trong những lực lượng tiên phong, lực lượng quyết định con thuyền ấy đi được bao xa.
![]() |
| Một quốc gia có thể sở hữu nhiều nguồn lực nhưng vẫn tăng trưởng dưới mức tiềm năng nếu các nguồn lực bị phân tán, chậm đưa vào sử dụng hoặc không được chuyển hóa thành năng suất và giá trị gia tăng. Đây là thông điệp trung tâm của Hội thảo khoa học quốc gia “Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới của Việt Nam”. Trong ảnh: PGS.TS Vũ Trọng Lâm và PGS.TS Bùi Đức Thọ đồng chủ trì Hội thảo - Ảnh: https://neu.edu.vn |
Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới của Việt Nam” ngày 28/9, một vấn đề được đặt ra rất đáng suy nghĩ: một quốc gia có thể sở hữu nhiều nguồn lực nhưng vẫn tăng trưởng dưới mức tiềm năng nếu những nguồn lực đó bị phân tán, chậm đưa vào sử dụng hoặc không được chuyển hóa thành năng suất và giá trị gia tăng.
Đó không chỉ là câu chuyện của Nhà nước hay của nền kinh tế nói chung. Đó là câu chuyện rất gần với mỗi doanh nghiệp.
Từ những gì đang có đến những gì có thể tạo ra
Việt Nam đã đi qua một chặng đường dài của quá trình tích lũy nguồn lực. Hạ tầng được mở rộng, thị trường được mở hơn, vốn đầu tư tăng lên, kinh tế số phát triển nhanh, lực lượng doanh nghiệp ngày càng đông và khoa học - công nghệ được đặt vào vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển.
Nhưng khi nền kinh tế bước sang một giai đoạn mới, câu hỏi cũng thay đổi.
Không còn chỉ là làm thế nào để có thêm vốn, thêm đất, thêm lao động hay thêm dự án. Câu hỏi khó hơn là làm thế nào để những nguồn lực ấy tạo ra năng suất cao hơn, sản phẩm tốt hơn và giá trị lớn hơn.
Tại hội thảo ngày 28/9, các chuyên gia cho biết tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân 2,91%, gần như không thay đổi nhiều so với giai đoạn trước. Lao động qua đào tạo chưa đạt một phần ba lực lượng lao động, trong khi tỷ trọng lao động trong các ngành dựa nhiều vào tri thức và công nghệ mới khoảng 2,4%.
Những con số ấy gợi ra một khoảng cách đáng suy nghĩ giữa nguồn lực và giá trị được tạo ra từ nguồn lực.
Một nhà máy có thể được xây dựng rất nhanh, nhưng để sản phẩm của nhà máy bước lên một nấc cao hơn trong chuỗi giá trị lại cần một câu chuyện khác. Một doanh nghiệp có thể sở hữu hàng nghìn lao động, nhưng năng lực cạnh tranh không chỉ nằm ở số lượng người làm việc, mà ở giá trị mỗi người có thể tạo ra. Một công nghệ có thể được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, nhưng giá trị kinh tế chỉ thực sự xuất hiện khi công nghệ ấy đi được vào sản xuất và được thị trường chấp nhận.
Đó chính là cuộc chuyển động mà doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối diện.
Con thuyền ấy đang hướng ra biển lớn
Ngày 28/9, tại phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh rằng Việt Nam không thể duy trì tăng trưởng hai con số trong nhiều năm nếu chỉ dựa vào vốn và lao động chi phí thấp. Con đường bền vững phải là tăng năng suất, mà năng suất được thúc đẩy bởi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
![]() |
| Doanh nghiệp Việt giới thiệu sản phẩm, công nghệ tại Tuần lễ Công nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2026, mở thêm những kết nối để bước sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu - Ảnh: Cục Công nghiệp/Bộ Công Thương. |
Điều đáng chú ý là yêu cầu đang được chuyển rất rõ từ việc nói về nguồn lực sang đòi hỏi nguồn lực phải tạo ra kết quả.
Không lấy số văn bản, số đề tài hay số nền tảng làm thước đo cuối cùng, mà phải nhìn vào năng suất lao động, doanh thu công nghệ số, giá trị gia tăng và mức đóng góp vào tăng trưởng. Mỗi nhiệm vụ phải trả lời được nó đóng góp bao nhiêu, ai chịu trách nhiệm, nguồn lực ở đâu và bao giờ có kết quả.
Với doanh nghiệp, đây không phải là một thông điệp xa xôi.
Thị trường vốn đã là nơi đo hiệu quả bằng kết quả. Khách hàng đo doanh nghiệp bằng chất lượng sản phẩm. Đối tác quốc tế nhìn vào tiêu chuẩn, công nghệ, khả năng giao hàng, khả năng đổi mới và uy tín. Một doanh nghiệp muốn đi xa không thể chỉ dựa vào lợi thế giá rẻ hay nhân công rẻ.
Con thuyền muốn ra biển lớn phải có một thân tàu đủ chắc. Doanh nghiệp Việt Nam cũng vậy.
Giá trị mang tầm quốc tế không bắt đầu từ thị trường quốc tế
Có một điều tưởng như nghịch lý: muốn bước ra thị trường quốc tế, trước hết doanh nghiệp phải tạo được một chuẩn mực quốc tế ngay trong chính hoạt động của mình.
![]() |
| Các sản phẩm công nghệ, tự động hóa và công nghiệp do doanh nghiệp Việt nghiên cứu, phát triển được giới thiệu tại VITW 2026 - Ảnh: Cục Công nghiệp/Bộ Công Thương. |
Đó là năng suất. Là chất lượng. Là công nghệ. Là quản trị. Là khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Là khả năng giữ chữ tín trong một chuỗi cung ứng mà khoảng cách giữa các đối tác có thể là hàng nghìn kilomet.
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam cũng xác định mục tiêu đến năm 2045 là xây dựng một nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng.
Trong bức tranh ấy, doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi vị trí của mình trong chuỗi giá trị. Từ gia công sang làm chủ nhiều hơn. Từ bán sản phẩm sang xây dựng thương hiệu. Từ sử dụng công nghệ của người khác sang từng bước làm chủ công nghệ. Từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng năng suất, chất lượng và khả năng đổi mới.
Đó là một hành trình không dễ dàng. Nhưng nếu không đi, doanh nghiệp Việt rất khó giữ được vị trí cao hơn khi cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt.
Khi khát vọng được đo bằng những giá trị cụ thể
Có lẽ, điều đáng mừng nhất của giai đoạn hiện nay là câu chuyện phát triển đã bắt đầu được đặt trên những thước đo cụ thể hơn.
Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định nâng cao năng suất lao động và hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm của mô hình phát triển mới. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực chính.
![]() |
| Dự án Royal Central Park do doanh nghiệp Việt Nam phát triển tại Kyrgyzstan, một ví dụ về hành trình đưa năng lực và vốn Việt Nam ra thị trường quốc tế. Ảnh: VOV. |
Còn với doanh nghiệp, những khái niệm lớn ấy cuối cùng sẽ được quy về những điều rất đời thường: một sản phẩm bán được ở đâu, một dây chuyền tiết kiệm được bao nhiêu, một công nghệ tạo thêm bao nhiêu doanh thu, một người lao động tạo ra bao nhiêu giá trị, một thương hiệu Việt có thể đứng ở đâu trong mắt khách hàng quốc tế.
Đó là nơi khát vọng được kiểm chứng. Và cũng là nơi doanh nghiệp Việt Nam có thể góp phần định hình vị thế của đất nước.
Hai thập niên trước, câu chuyện của nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn là làm sao tồn tại, làm sao mở rộng sản xuất, làm sao tìm được thị trường. Hôm nay, khi nền kinh tế đã có quy mô và vị thế khác, câu hỏi đang lớn dần lên: làm sao để một sản phẩm Việt Nam không chỉ được mua vì giá tốt, mà được lựa chọn vì chất lượng, công nghệ, thương hiệu và những giá trị mà nó mang lại?
Câu hỏi ấy không chỉ dành cho những tập đoàn lớn. Nó dành cho cả những doanh nghiệp đang đứng ở những vùng đất xa trung tâm, những nhà máy đang từng ngày cải tiến dây chuyền, những kỹ sư đang thử nghiệm một công nghệ mới, những doanh nhân đang tìm cách đưa một sản phẩm quen thuộc của Việt Nam đến một thị trường xa hơn.
Bởi một quốc gia muốn đi xa không thể chỉ trông chờ vào một vài con tàu lớn. Cần rất nhiều con tàu cùng ra biển. Và Doanh nghiệp Việt Nam chính là những con tàu như thế.
Có con tàu đã ra khơi. Có con tàu đang sửa lại thân tàu. Có con tàu còn đang tìm hướng đi. Nhưng điểm chung của tất cả là phía trước vẫn còn một vùng biển rộng lớn.
Khát vọng Việt Nam vì thế không chỉ nằm ở những mục tiêu được viết trong các nghị quyết. Nó sẽ hiện hữu trong từng sản phẩm Việt có thể đứng vững ở một thị trường khó tính, từng công nghệ Việt tạo ra giá trị mới, từng doanh nghiệp Việt bước lên một nấc cao hơn của chuỗi giá trị toàn cầu.
Con thuyền Việt Nam đã đi qua một chặng đường dài. Phía trước là biển lớn.
Và điều đáng chờ đợi nhất không chỉ là con thuyền đi được bao xa, mà là những giá trị mang tầm quốc tế mà người Việt Nam có thể tạo ra trên hành trình ấy.