81 năm trước, dân tộc Việt Nam đứng lên giành lấy quyền quyết định vận mệnh của mình. 81 năm sau, câu hỏi lớn không còn chỉ là làm thế nào để giữ vững độc lập, mà là làm thế nào biến độc lập thành sức mạnh phát triển, biến tiềm lực thành năng suất và biến khát vọng thành một vị thế xứng đáng của Việt Nam trên thế giới.
Đó là hành trình đòi hỏi một tư duy phát triển mới, một nền tảng thể chế mới và quan trọng hơn cả là một niềm tin mới vào chính năng lực của người Việt Nam.
Từ quyền tự quyết đến quyền làm chủ tương lai
Mùa thu năm 1945 đã mở ra một trang sử mà ở đó, hai giá trị độc lập và tự do trở thành nền tảng của một quốc gia tự quyết định tương lai.
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945. |
Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam đứng trước một bài toán khác. Sau 40 năm đổi mới, từ một nền kinh tế tập trung, bao cấp, đất nước đã trở thành một nền kinh tế có độ mở lớn và hội nhập ngày càng sâu rộng. Nhưng những động lực từng tạo nên tốc độ tăng trưởng trong nhiều thập niên đang đứng trước giới hạn.
Vốn, lao động giá rẻ và việc mở rộng các yếu tố đầu vào không thể mãi là nền tảng chính của tăng trưởng. Năng suất các nhân tố tổng hợp có dấu hiệu chậm lại, trong khi cạnh tranh công nghệ, bất định kinh tế và căng thẳng địa chính trị toàn cầu ngày càng gay gắt.
Đây chính là điểm mà khát vọng hùng cường phải được đặt lên một nền tảng thực chất hơn.
Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế từ mô hình Solow đến các lý thuyết tăng trưởng nội sinh đều cho thấy một điều có ý nghĩa đặc biệt với Việt Nam: tích lũy vốn và gia tăng lao động có thể tạo tăng trưởng, nhưng công nghệ, đổi mới sáng tạo và vốn con người mới là những động lực quyết định sức tăng trưởng dài hạn.
Vì vậy, bài toán tránh “bẫy thu nhập trung bình” không thể giải bằng cách tiếp tục kéo dài mô hình cũ. Việt Nam cần thay đổi cách tạo ra giá trị.
Một kiến trúc thể chế cho bước chuyển lớn
Điều đáng chú ý là từ cuối năm 2024 đến nay, một chuỗi nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị đã tạo nên một xung lực cải cách có tính hệ thống.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt trọng tâm vào đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 59-NQ/TW mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nghị quyết số 66-NQ/TW hướng tới đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Cùng với đó là hai trụ cột quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt đoàn đại biểu doanh nhân tiêu biểu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam tại Phủ Chủ tịch. |
Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng. Trong khi đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thực hiện chức năng dẫn dắt và điều tiết nền kinh tế.
Nhìn riêng từng nghị quyết, có thể thấy những mục tiêu khác nhau. Nhưng đặt chúng cạnh nhau, một cấu trúc phát triển mới hiện lên khá rõ.
Thể chế phải mở đường cho nguồn lực. Nhà nước phải kiến tạo và dẫn dắt. Doanh nghiệp phải trở thành lực lượng tạo ra giá trị. Khoa học - công nghệ phải trở thành động lực tăng năng suất. Hội nhập phải mở rộng không gian cạnh tranh và phát triển.
Đó không đơn thuần là những điều chỉnh chính sách rời rạc. Đây là cách tiếp cận mang tính “kiến trúc thể chế”, nhằm xử lý đồng thời những điểm nghẽn của mô hình tăng trưởng cũ.
Nghị quyết 19 và tầm nhìn vượt khỏi một thế hệ
Ngày 28/7/2026, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam được ban hành.
Nếu chuỗi nghị quyết trước đó tạo nền móng cho cải cách, Nghị quyết số 19-NQ/TW đi thêm một bước: định hình cách Việt Nam sẽ phát triển trong những thập niên tới.
Có ba chuyển dịch lớn được đặt ra.
Thứ nhất, động lực tăng trưởng phải chuyển từ sự phụ thuộc nhiều vào vốn, lao động và các yếu tố đầu vào sang khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ hai, phương thức quản trị cần chuyển từ tư duy thiên về “quản lý, kiểm soát” sang “kiến tạo, dẫn dắt phát triển”, đồng thời vận hành hài hòa quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.
Thứ ba, cách huy động nguồn lực phải kết hợp nội lực và ngoại lực, trong đó nội lực giữ vai trò quyết định, còn ngoại lực tạo thêm những đột phá cho phát triển.
Đằng sau những chuyển dịch ấy là một tầm nhìn rất dài.
Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu hoàn thành các nền tảng của mô hình phát triển mới, tạo đột phá về thể chế, quản trị quốc gia, khoa học-công nghệ, hạ tầng chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đến năm 2045, mục tiêu là trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, với mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập sâu rộng.
Xa hơn nữa, Nghị quyết đặt tầm nhìn tạo lập nền tảng cho 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước, giai đoạn 2030-2130.
Một tầm nhìn như vậy cho thấy khát vọng hùng cường không được đo bằng một vài con số tăng trưởng của một nhiệm kỳ. Đó là câu chuyện của nhiều thế hệ.
Điều quyết định là năng lực tạo ra giá trị
Muốn đi xa, Việt Nam không chỉ cần nhiều nguồn lực hơn. Điều quan trọng hơn là phải sử dụng và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
![]() |
| 81 năm trước, khát vọng lớn nhất của dân tộc Việt Nam là giành lấy độc lập, tự do và quyền tự quyết định tương lai. Khát vọng ấy đến hôm nay được tiếp nối, trong một chuỗi cải cách thể chế mạch lạc và nhất quán, hướng đến mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. |
Bởi vậy, trọng tâm được đặt vào cải cách hệ thống tài chính, nâng hạng thị trường chứng khoán, nâng cao tín nhiệm quốc gia và cấu trúc lại việc phân bổ nguồn lực công.
Cùng dòng chảy đó là các quyết sách về thể chế đất đai theo Nghị quyết số 21-NQ/TW và mở rộng không gian phát triển từ biển theo Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam thành quốc gia biển mạnh.
Đầu tư công cũng cần được nhìn theo một cách khác: tập trung vào những dự án trọng điểm có sức lan tỏa lớn thay vì phân bổ dàn trải, qua đó trở thành đòn bẩy cho tăng trưởng.
Sau cùng, mọi cải cách đều phải quay về một thước đo rất đời thường: năng suất có tăng không, doanh nghiệp có mạnh hơn không, người dân có sống tốt hơn không và đất nước có tạo ra nhiều giá trị hơn không.
Đó cũng là nơi khát vọng được kiểm chứng.
Khát vọng của một dân tộc trỗi mình vươn lên
81 năm trước, người Việt Nam đã làm một việc tưởng như không thể: đứng lên giành lại quyền tự quyết giữa một thời khắc lịch sử đầy biến động.
Ngày hôm nay, thử thách đã khác. Không còn là cuộc đấu tranh giành chính quyền theo nghĩa của mùa thu 1945, mà là cuộc cạnh tranh về tri thức, công nghệ, năng suất, thể chế, nguồn nhân lực, sức mạnh doanh nghiệp và năng lực quốc gia.
Nhưng sợi chỉ đỏ thì vẫn vậy: ý chí làm chủ vận mệnh của dân tộc Việt Nam.
Nếu thế hệ cha anh đã trao lại cho chúng ta một đất nước độc lập, thì trách nhiệm của thế hệ hôm nay là làm cho đất nước ấy giàu mạnh hơn, văn minh hơn, tự cường hơn và có vị thế cao hơn trong cộng đồng quốc tế.
Khát vọng ấy không phải một khẩu hiệu đẹp để nói trong những ngày tháng Tám. Nó phải hiện diện trong từng chính sách đúng, từng doanh nghiệp lớn lên, từng phòng thí nghiệm tạo ra công nghệ mới, từng con người được trao cơ hội phát triển và từng đồng vốn được sử dụng đúng chỗ.
Từ mùa thu độc lập đến khát vọng hùng cường, Việt Nam đang viết tiếp câu chuyện của mình bằng một ngôn ngữ mới: năng suất, sáng tạo, tự cường và hội nhập.
Để đến năm 2045, khi nhìn lại chặng đường một thế kỷ, chúng ta có thể tự hào rằng thế hệ mình không chỉ giữ gìn thành quả của cha ông, mà còn góp phần đưa Việt Nam bước vào hàng ngũ các quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Và xa hơn nữa, hành trình ấy sẽ tiếp tục được trao lại cho những thế hệ Việt Nam của 100 năm tiếp theo.
Một dân tộc từng giành được độc lập bằng khát vọng, hoàn toàn có quyền nuôi dưỡng một khát vọng lớn hơn: xây dựng một Việt Nam hùng cường, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.