Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã ký Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045.
![]() |
| Phấn đấu đến năm 2045 thị trường tài chính Việt Nam có trình độ phát triển cao, vận hành theo nguyên tắc thị trường, có hệ thống thể chế, hạ tầng, sản phẩm, nhà đầu tư và cơ chế quản lý giám sát đạt chuẩn quốc tế (Ảnh minh họa). |
Theo Đề án, thị trường tài chính Việt Nam sẽ được phát triển đồng bộ, hiện đại, hội nhập quốc tế, có khả năng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội. Đây được xác định là một trong những động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững đến năm 2045.
Định hình thị trường tài chính theo chuẩn quốc tế
Đề án đặt mục tiêu đến năm 2045, thị trường tài chính Việt Nam đạt trình độ phát triển cao, vận hành theo nguyên tắc thị trường với hệ thống thể chế, hạ tầng, sản phẩm, nhà đầu tư và cơ chế giám sát tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Trong định hướng đó, thị trường chứng khoán giữ vai trò trung tâm của kênh dẫn vốn trung và dài hạn, hệ thống ngân hàng phát triển theo hướng an toàn, hiện đại, thị trường bảo hiểm hoạt động bền vững, còn Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng từng bước trở thành đầu mối kết nối dòng vốn và các định chế tài chính trong khu vực.
Đề án cũng hướng tới phát triển cân bằng giữa các cấu phần của thị trường tài chính, nâng cao hiệu quả huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng, đồng thời tăng năng lực hoạt động của các công ty chứng khoán và các định chế tài chính trung gian.
Mở rộng nguồn vốn, hiện đại hóa hạ tầng và thu hút nhà đầu tư
Đề án đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Trong đó, giá trị tài sản của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường vốn và thị trường chứng khoán đạt khoảng 15% GDP; tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư chứng khoán đạt 5% GDP; quy mô tài sản các quỹ hưu trí tăng trưởng bình quân 11,5% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030.
![]() |
| Nhóm giải pháp về sản phẩm, hàng hóa bao gồm: Thị trường cổ phiếu; thị trường trái phiếu Chính phủ; thị trường trái phiếu doanh nghiệp; thị trường chứng khoán phái sinh; thị trường tiền tệ - tín dụng; thị trường bảo hiểm; thị trường tài sản mã hóa. |
Một trọng tâm khác là hiện đại hóa hạ tầng tài chính và thúc đẩy chuyển đổi số. Theo lộ trình, hệ thống thanh toán hiện đại, đồng bộ và có khả năng kết nối với các hệ thống thanh toán song phương, đa phương trong khu vực và thế giới phải hoàn thành chậm nhất vào năm 2028.
Cơ chế đối tác bù trừ trung tâm trên thị trường chứng khoán cơ sở sẽ được triển khai trong năm 2027, trong khi cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ quản lý, giám sát thị trường tài chính dự kiến được xây dựng trong giai đoạn 2030-2035.
Song song với đó, Chính phủ tiếp tục mở rộng cơ sở nhà đầu tư theo hướng bền vững, ưu tiên phát triển các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm và từng bước đơn giản hóa thủ tục để thu hút mạnh hơn dòng vốn đầu tư nước ngoài.
8 nhóm giải pháp thúc đẩy cải cách toàn diện
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Đề án đề ra 8 nhóm giải pháp, tập trung vào hoàn thiện thể chế, phát triển sản phẩm tài chính, mở rộng cơ sở nhà đầu tư, nâng cao năng lực các định chế tài chính trung gian, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ, tăng cường quản lý giám sát, thúc đẩy hội nhập quốc tế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đáng chú ý, thị trường tài sản mã hóa lần đầu được xác định là một cấu phần trong định hướng phát triển của thị trường tài chính, cùng với thị trường cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ - tín dụng và bảo hiểm.
Đề án cũng xây dựng lộ trình phát triển tài chính xanh thông qua cổ phiếu xanh, trái phiếu doanh nghiệp xanh, quỹ đầu tư ESG và bộ chỉ số chứng khoán xanh theo các chuẩn mực quốc tế. Đối với thị trường trái phiếu Chính phủ, định hướng là đa dạng hóa các sản phẩm như trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, trái phiếu lãi suất thả nổi và trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát.
Trong lĩnh vực ngân hàng, Chính phủ tiếp tục nghiên cứu hình thành các ngân hàng có quy mô lớn, năng lực cạnh tranh khu vực; khuyến khích các ngân hàng thương mại quan trọng áp dụng sớm các tiêu chuẩn an toàn tiệm cận Basel III từ năm 2026; đồng thời đẩy mạnh xử lý nợ xấu, kiểm soát sở hữu chéo và đổi mới phương thức giám sát theo hướng dựa trên rủi ro.
Đề án cũng nhấn mạnh việc nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao, đồng thời xây dựng đội ngũ chuyên gia về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng và quản trị rủi ro để đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường tài chính trong giai đoạn mới.
| Hiệp ước Basel III là một khuôn khổ quốc tế nhằm tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các cú sốc tài chính, thông qua việc nâng cao yêu cầu về vốn, thanh khoản và quản trị rủi ro. Việc triển khai Basel III tại Việt Nam là một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế, tuy nhiên vẫn gặp nhiều thách thức về năng lực tài chính, cơ sở hạ tầng công nghệ và trình độ quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng. |