Theo số liệu thống kê, sản xuất công nghiệp tháng 10/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2025.
Tính chung 10 tháng năm 2026, IIP tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026. Kết quả này cho thấy sự phục hồi và mở rộng sản xuất đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực công nghiệp, với đóng góp nổi bật từ ngành chế biến, chế tạo.
![]() |
| Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm. |
Xét theo ngành hoạt động, trong tháng 10, công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện cùng tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%; ngành khai khoáng tăng 4,9%.
Lũy kế 10 tháng, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13%, cao hơn mức tăng 10,4% của cùng kỳ năm 2025, đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp.
Các lĩnh vực còn lại cũng ghi nhận kết quả khả quan. Ngành khai khoáng tăng 7,1%, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ tăng 0,2%, đóng góp 1,1 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, so với mức tăng 6,6% của cùng kỳ năm 2025, đóng góp 1 điểm phần trăm. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Trong nhóm ngành công nghiệp trọng điểm cấp II, nhiều lĩnh vực đạt mức tăng trưởng hai con số. Đáng chú ý, sản xuất kim loại tăng 25,6%; sản xuất đồ uống tăng 17,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,6%.
Một số ngành khác cũng duy trì đà tăng khá như sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,6%; chế biến thực phẩm tăng 12,9%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 12,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,8%.
Bên cạnh đó, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 11,7%; ngành dệt tăng 10,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,1%.
Ở chiều ngược lại, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan chỉ tăng 4,3%; hoạt động khai thác than cứng và than non giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước.
Xét theo địa phương, trong 10 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng tại 33 địa phương. Riêng Sơn La ghi nhận mức giảm 5% so với cùng kỳ năm trước.
Tại một số địa phương, IIP tăng khá nhờ sự đóng góp tích cực của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện. Ngược lại, một số địa phương có mức tăng thấp hoặc giảm do các ngành chế biến, chế tạo, khai khoáng và sản xuất, phân phối điện tăng trưởng chậm hoặc suy giảm.
Về sản phẩm công nghiệp, nhiều mặt hàng chủ lực ghi nhận mức tăng trưởng đáng chú ý. Trong 10 tháng, sản lượng máy tính bảng tăng 36,6%; xe máy tăng 26,8%; máy tính xách tay tăng 25,9%; ô tô tăng 25,1%; thép cán tăng 24%.
Đáng chú ý, thép thanh, thép góc và thủy hải sản chế biến cùng tăng 22,5%; đường kính tăng 18,9%; sắt, thép thô tăng 17%; bia tăng 14,6%.
Tuy nhiên, một số sản phẩm vẫn chịu áp lực suy giảm. Sản lượng bột ngọt giảm 6,7%; phân hỗn hợp NPK giảm 6,3%; tivi giảm 5,1% và khí hóa lỏng LPG giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước.
Cùng với đà mở rộng sản xuất, nhu cầu sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tiếp tục tăng. Tại thời điểm ngày 1/10/2026, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng thời điểm năm 2025.
Xét theo ngành hoạt động, lao động trong doanh nghiệp khai khoáng tăng 0,1% so với tháng trước nhưng giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ.
Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có số lao động tăng lần lượt 0,2% và 1,8%. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng tương ứng 0,2% và 3,9%.
Những kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp đang duy trì động lực tăng trưởng tích cực, đặc biệt ở nhóm chế biến, chế tạo và các ngành sản xuất sản phẩm công nghệ, cơ khí, kim loại. Tuy nhiên, sự phân hóa giữa các ngành, địa phương và sản phẩm cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục củng cố năng lực sản xuất, bảo đảm nguồn cung nguyên liệu và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong những tháng cuối năm.