| Bài liên quan |
| Chính phủ ban hành quy định về ưu đãi đầu tư đặc biệt |
| Luật hóa ưu đãi đầu tư hạ tầng hàng hải, thúc đẩy chuyển đổi xanh toàn diện quốc gia |
Giải trình trước Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo đã nhận được nhiều ý kiến góp ý tại các phiên thảo luận tổ, thảo luận hội trường và bằng văn bản. Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu, hoàn thiện các quy định nhằm đáp ứng yêu cầu huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế.
Theo Bộ trưởng, Luật Đầu tư đã trải qua 16 lần sửa đổi, bổ sung. Nếu trước đây trọng tâm chính sách chủ yếu là cắt giảm điều kiện, thủ tục đầu tư, kinh doanh thì trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu đặt ra là tiếp tục khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện huy động vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn. Ảnh ĐBND |
Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong giai đoạn tới, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng khoảng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025. Riêng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam cần thu hút bình quân khoảng 30-40 tỷ USD vốn giải ngân mỗi năm.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, nhiều nền kinh tế như Philippines, Malaysia và Ấn Độ đang triển khai các chính sách ưu đãi nhằm thu hút dòng vốn vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như điện tử, máy tính, điện thoại, chip bán dẫn và chuyển đổi số. Điều này đặt ra yêu cầu Việt Nam phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh của chính sách, nhất là đối với các dự án công nghệ cao.
Về chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết dự thảo tập trung vào những ngành, lĩnh vực ưu tiên như đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ cao. Tuy nhiên, định hướng thu hút đầu tư không chỉ dừng ở việc gia tăng quy mô vốn mà cần chú trọng chất lượng dự án, hiệu quả kinh tế và khả năng lan tỏa đối với nền sản xuất trong nước.
Một trong những yêu cầu quan trọng là tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện để khu vực sản xuất trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Qua đó, nguồn vốn đầu tư nước ngoài không chỉ bổ sung năng lực sản xuất mà còn góp phần nâng cao trình độ công nghệ, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa.
Tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, cơ quan soạn thảo sẽ hoàn thiện quy định theo hướng mọi chính sách hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra cụ thể, có thể lượng hóa, kiểm tra và giám sát. Đồng thời, dự thảo cần xác định rõ điều kiện chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi trong trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng yêu cầu hoặc không thực hiện đúng các cam kết đã đề ra.
Theo Bộ trưởng, cơ chế này cần được thiết kế chặt chẽ ngay từ đầu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp, khiếu kiện, nhất là trong bối cảnh các tranh chấp đầu tư quốc tế thường có tính chất phức tạp.
Đối với Quỹ Hỗ trợ đầu tư, Bộ trưởng đề nghị bổ sung quy định về kiểm toán nhà nước hằng năm và tổ chức thanh tra định kỳ. Việc tăng cường giám sát nhằm bảo đảm nguồn hỗ trợ được phân bổ đúng đối tượng, đáp ứng đầy đủ điều kiện và mang lại hiệu quả thực chất.
Kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, nhận diện và tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế trong hoạt động đầu tư; bảo đảm dự thảo Luật thống nhất, đồng bộ với các quy định pháp luật về đất đai, đấu thầu, ngân sách và thuế.
Đặc biệt, các nguyên tắc, tiêu chí và điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư đặc biệt cần được quy định rõ ràng, minh bạch, gắn việc hỗ trợ với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư. Đây là cơ sở để chính sách ưu đãi thực sự trở thành công cụ thúc đẩy đầu tư có chọn lọc, thay vì chỉ tạo lợi thế về chi phí cho doanh nghiệp.
Các ý kiến tại nghị trường sẽ được tổng hợp, gửi Chính phủ tiếp thu, giải trình và hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm chất lượng và tiến độ trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối kỳ họp.