Việt Nam đặt mục tiêu thu hút bình quân 30-40 tỷ USD vốn FDI giải ngân mỗi năm trong giai đoạn tới để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên. Tuy nhiên, quy mô vốn không còn là thước đo duy nhất. Chính sách ưu đãi đầu tư đang được đặt trước yêu cầu mới: phải tạo ra kết quả có thể đo lường, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị và có cơ chế xử lý khi nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết.
Đây là những nội dung được Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh khi giải trình trước Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư ngày 2/11. Cơ quan soạn thảo cho biết sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy định về điều kiện hưởng ưu đãi, tiêu chí đánh giá, kiểm tra, giám sát và chấm dứt hỗ trợ đối với trường hợp vi phạm cam kết.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn làm rõ các vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư - Ảnh: https://quochoi.vn |
Áp lực cạnh tranh FDI buộc chính sách phải thay đổi
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Luật Đầu tư đã trải qua 16 lần sửa đổi, bổ sung. Nếu những lần điều chỉnh trước đây chủ yếu tập trung cắt giảm điều kiện, thủ tục đầu tư, kinh doanh thì yêu cầu hiện nay đã mở rộng hơn: khơi thông nguồn lực, huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng.
Bài toán nguồn lực được đặt ra với quy mô lớn. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn tới cần tăng khoảng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025. Riêng vốn FDI, Việt Nam cần thu hút bình quân khoảng 30-40 tỷ USD giải ngân mỗi năm. Đây là vốn thực hiện, không phải vốn đăng ký.
Áp lực không chỉ đến từ nhu cầu vốn trong nước. Các quốc gia trong khu vực và trên thế giới cũng đang tăng tốc thu hút những dòng vốn có hàm lượng công nghệ cao. Philippines, Malaysia và Ấn Độ đều triển khai chính sách hỗ trợ đầu tư vào các lĩnh vực như điện tử, máy tính, điện thoại, chip bán dẫn và chuyển đổi số.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhận định: “Chúng ta cần thu hút FDI thì các quốc gia khác cũng cần. Những lĩnh vực chúng ta ưu đãi thì họ cũng ưu đãi”.
Trong bối cảnh đó, việc cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện chính sách hỗ trợ không chỉ nhằm tăng sức hấp dẫn của Việt Nam, mà còn giúp nâng cao khả năng cạnh tranh khi các quốc gia cùng hướng đến những ngành sản xuất và công nghệ có giá trị cao.
Ưu đãi phải tạo ra giá trị cho nền kinh tế trong nước
Một điểm đáng chú ý trong định hướng sửa đổi Luật Đầu tư là chuyển trọng tâm từ quy mô dự án sang chất lượng và hiệu quả lan tỏa của dòng vốn.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt hướng tới những lĩnh vực được ưu tiên như đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ cao. Tuy nhiên, quy mô vốn, thời gian và lĩnh vực được hưởng ưu đãi chưa đủ để đánh giá hiệu quả của một dự án.
Yêu cầu đặt ra là phải có tiêu chí thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp nước ngoài. Khi các nhà cung ứng trong nước có cơ hội tham gia sản xuất, cung ứng linh kiện, dịch vụ và công nghệ, tác động của dòng vốn FDI mới có thể lan rộng ra ngoài phạm vi một dự án.
Đây cũng là thước đo quan trọng để phân biệt một dự án chỉ tạo thêm năng lực sản xuất với dự án có khả năng nâng cấp năng lực công nghiệp, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Vì vậy, cơ quan soạn thảo định hướng quy định việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra có thể lượng hóa, kiểm tra và giám sát. Nhà đầu tư không đáp ứng điều kiện hoặc không thực hiện đúng cam kết sẽ phải đối mặt với cơ chế chấm dứt, thu hồi ưu đãi.
Cách tiếp cận này nhằm hạn chế tình trạng doanh nghiệp nhận được hỗ trợ nhưng kết quả thực hiện không tương xứng với những cam kết ban đầu. Đồng thời, quy định rõ điều kiện xử lý ngay từ đầu cũng giúp giảm nguy cơ phát sinh tranh chấp, khiếu kiện trong quá trình thực hiện dự án, nhất là các tranh chấp đầu tư quốc tế vốn thường phức tạp.
Tăng giám sát nguồn lực hỗ trợ đầu tư
Cùng với việc siết điều kiện hưởng ưu đãi, cơ chế quản lý Quỹ Hỗ trợ đầu tư (Quỹ) cũng được đặt ra trong quá trình hoàn thiện dự thảo luật.
![]() |
| Về phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn bày tỏ đồng tình với ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng đã đến lúc cần tổng kết, xem xét lại một cách tổng thể phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật. Trong đó, cần phân định rõ giữa điều kiện đầu tư kinh doanh với điều kiện tiếp cận, gia nhập thị trường, qua đó bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa Luật Đầu tư với các luật chuyên ngành, đồng thời nâng cao tính ổn định lâu dài của hệ thống pháp luật. |
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Quỹ đã được triển khai trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành và bước đầu hoạt động ổn định. Quy trình quản lý gồm xây dựng dự toán hằng năm theo quy trình ngân sách nhà nước; Chính phủ quyết định mức hỗ trợ tổng thể, địa phương quyết định hỗ trợ và cơ quan quản lý Quỹ thực hiện cấp kinh phí.
Để tăng tính minh bạch và hiệu quả sử dụng nguồn lực, Bộ trưởng đề nghị bổ sung quy định kiểm toán nhà nước hằng năm đối với hoạt động của Quỹ Hỗ trợ đầu tư, đồng thời tổ chức thanh tra định kỳ. Mục tiêu là bảo đảm các khoản hỗ trợ được cấp đúng đối tượng, đúng điều kiện và đúng quy trình.
Đề xuất này có ý nghĩa quan trọng bởi ưu đãi đầu tư không chỉ là công cụ cạnh tranh giữa các quốc gia, mà còn liên quan trực tiếp đến việc phân bổ nguồn lực tài chính công. Nếu thiếu cơ chế giám sát hiệu quả, chính sách hỗ trợ có thể không tạo ra giá trị tương xứng với chi phí mà Nhà nước phải bỏ ra.
Tại phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên cũng đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ nguyên tắc, tiêu chí và điều kiện áp dụng chính sách ưu đãi, đặc biệt là các tiêu chí về tác động lan tỏa, tạo động lực phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Việc hỗ trợ đầu tư của địa phương cần xác định rõ giới hạn thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Phó Chủ tịch Quốc hội đồng thời yêu cầu rà soát tính đồng bộ của dự thảo với các quy định về đất đai, đấu thầu, ngân sách nhà nước, thuế và các lĩnh vực liên quan; bảo đảm chính sách có tính khả thi, ổn định và không tạo khoảng trống pháp lý.
Cạnh tranh bằng chất lượng thay vì chỉ bằng ưu đãi
Việc sửa đổi Luật Đầu tư diễn ra trong bối cảnh Việt Nam cần lượng vốn lớn để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, trong khi các đối thủ cạnh tranh cũng liên tục điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư. Điều đó khiến yêu cầu hoàn thiện cơ chế ưu đãi trở nên cấp thiết.
Tuy nhiên, sức cạnh tranh của môi trường đầu tư không thể chỉ được tạo ra bằng mức hỗ trợ hấp dẫn. Nhà đầu tư còn quan tâm đến tính ổn định của chính sách, khả năng dự đoán của pháp luật, chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực và mức độ thuận lợi trong triển khai dự án.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng cần bảo đảm các ưu đãi được trao đổi bằng những đóng góp cụ thể cho nền kinh tế: vốn thực hiện, công nghệ, năng lực sản xuất, việc làm chất lượng và sự tham gia của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng.
Vì vậy, điểm quan trọng của lần sửa đổi này không đơn thuần là tạo thêm ưu đãi để thu hút FDI, mà là thiết lập cơ chế để ưu đãi đi cùng trách nhiệm và hiệu quả. Đây sẽ là cơ sở để nguồn lực hỗ trợ đầu tư được phân bổ có trọng tâm, đồng thời hạn chế tình trạng ưu đãi không tương xứng với đóng góp thực tế của dự án.
Theo kết luận phiên thảo luận, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục tổng hợp, tiếp thu ý kiến đại biểu, hoàn thiện dự thảo Luật để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối kỳ họp.