Bức tranh đầu tư 10 tháng năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, từ tiến độ thực hiện vốn đầu tư công đến khả năng thu hút và giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong đó, dòng vốn ngoại tiếp tục tăng mạnh, tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, bất động sản và một số lĩnh vực dịch vụ.
Theo số liệu thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong tháng 10/2026 ước đạt 121,6 nghìn tỷ đồng, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn do Trung ương quản lý đạt 17,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8%; vốn do địa phương quản lý đạt 104,3 nghìn tỷ đồng, tăng 28,6%.
Lũy kế 10 tháng, tổng vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước ước đạt 783,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 69% kế hoạch năm và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2025. Dù tỷ lệ thực hiện kế hoạch cao hơn mức 64,3% của cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng vốn thực hiện lại thấp hơn mức 30,7% ghi nhận trong 10 tháng năm 2025.
Xét theo cấp quản lý, vốn đầu tư do Trung ương quản lý đạt 112,1 nghìn tỷ đồng, bằng 67,9% kế hoạch năm và tăng 5,6% so với cùng kỳ. Một số bộ có mức thực hiện vốn đầu tư giảm đáng kể, trong đó Bộ Xây dựng đạt 27,3 nghìn tỷ đồng, giảm 48,3%; Bộ Nông nghiệp và Môi trường đạt 6,6 nghìn tỷ đồng, giảm 48,5%.
Các bộ khác cũng ghi nhận mức giảm gồm Bộ Y tế với 2,5 nghìn tỷ đồng, giảm 1,1%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 1.000 tỷ đồng, giảm 25,6%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt 636,5 tỷ đồng, giảm 15,4%.
Trong khi đó, vốn đầu tư do địa phương quản lý đạt 671,8 nghìn tỷ đồng, bằng 69,2% kế hoạch năm và tăng 22,6% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 543,5 nghìn tỷ đồng, bằng 70,8% kế hoạch và tăng 21%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 128,3 nghìn tỷ đồng, bằng 63,4% kế hoạch và tăng 29,6%.
Những con số này cho thấy khu vực địa phương tiếp tục đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng vốn đầu tư công. Việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ngân sách nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy đầu tư phát triển, tạo thêm dư địa cho tăng trưởng kinh tế.
![]() |
| Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD. |
Tính đến ngày 31/10/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần, đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất kể từ năm 2009.
Trong đó, vốn đăng ký cấp mới tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với 3.478 dự án được cấp phép, tổng vốn đăng ký đạt 30,73 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, số dự án tăng 4,7%, trong khi tổng vốn đăng ký tăng gấp 2,2 lần.
Xét theo lĩnh vực, công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu về thu hút vốn FDI cấp mới với 14,61 tỷ USD, chiếm 47,5% tổng vốn đăng ký. Tiếp đến là ngành vận tải, kho bãi với 5,15 tỷ USD, chiếm 16,7%; các ngành còn lại đạt 10,98 tỷ USD, chiếm 35,8%.
Về đối tác đầu tư, trong số 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án được cấp phép mới tại Việt Nam trong 10 tháng, Singapore dẫn đầu với 9,52 tỷ USD, chiếm 31% tổng vốn đăng ký cấp mới.
Hàn Quốc đứng thứ hai với 5,81 tỷ USD, chiếm 18,9%; tiếp đến là Luxembourg với 4,99 tỷ USD, chiếm 16,2%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) đạt 3,57 tỷ USD, chiếm 11,6%; Trung Quốc đạt 2,77 tỷ USD, chiếm 9%; Nhật Bản đạt 1,58 tỷ USD, chiếm 5,1%; Hà Lan đạt 438,5 triệu USD, chiếm 1,4%.
Bên cạnh các dự án mới, hoạt động điều chỉnh vốn cũng ghi nhận mức tăng đáng kể. Trong 10 tháng, có 1.079 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 16,13 tỷ USD, tăng 33,2% so với cùng kỳ năm trước.
Như vậy, tổng vốn đăng ký cấp mới và điều chỉnh đạt 46,86 tỷ USD. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục chiếm ưu thế với 24,19 tỷ USD, tương đương 51,6% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm. Hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 7,08 tỷ USD, chiếm 15,1%; các ngành còn lại đạt 15,59 tỷ USD, chiếm 33,3%.
Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần, trong 10 tháng có 2.616 lượt nhà đầu tư nước ngoài thực hiện giao dịch với tổng giá trị 7,99 tỷ USD, tăng 49,6% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, có 828 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp, với giá trị 3,28 tỷ USD; 1.788 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước nhưng không làm tăng vốn điều lệ, với giá trị 4,71 tỷ USD.
Xét theo lĩnh vực, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ thu hút 2,78 tỷ USD vốn góp, mua cổ phần, chiếm 34,8%; bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 2,17 tỷ USD, chiếm 27,1%; các ngành còn lại đạt 3,05 tỷ USD, chiếm 38,1%.
Không chỉ tăng mạnh về vốn đăng ký, dòng vốn FDI giải ngân tại Việt Nam cũng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Trong 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện ước đạt 24,08 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức giải ngân cao nhất trong cùng kỳ 10 tháng của 5 năm qua.
Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực hấp thụ vốn FDI thực hiện lớn nhất với 19,96 tỷ USD, chiếm 82,9% tổng vốn. Hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,76 tỷ USD, chiếm 7,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 785,2 triệu USD, chiếm 3,3%.
Việc vốn FDI thực hiện đạt mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm cho thấy tiến độ triển khai các dự án đầu tư nước ngoài tiếp tục được duy trì. Đặc biệt, tỷ trọng lớn của công nghiệp chế biến, chế tạo phản ánh vai trò của lĩnh vực này trong thu hút nguồn lực đầu tư quốc tế, mở rộng năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Ở chiều ngược lại, hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng ghi nhận mức tăng trưởng đáng chú ý.
Trong 10 tháng năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam có 132 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài, với tổng vốn đăng ký đạt 1,87 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, có 34 lượt dự án điều chỉnh vốn, với số vốn tăng thêm 1,54 tỷ USD, gấp 4,3 lần cùng kỳ.
Tính chung vốn đầu tư ra nước ngoài cấp mới và điều chỉnh đạt 3,41 tỷ USD, gấp 3,1 lần so với cùng kỳ năm 2025.
Xét theo lĩnh vực, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ dẫn đầu với 684,8 triệu USD, chiếm 20,1% tổng vốn đầu tư. Tiếp đến là vận tải, kho bãi đạt 639,4 triệu USD, chiếm 18,8%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 585,8 triệu USD, chiếm 17,2%.
Trong 10 tháng, có 37 quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp nhận vốn đầu tư từ Việt Nam. Lào là điểm đến dẫn đầu với 670,9 triệu USD, chiếm 19,7% tổng vốn đầu tư.
Tiếp theo là Cộng hòa Dominica với 560 triệu USD, chiếm 16,4%; Campuchia đạt 487 triệu USD, chiếm 14,3%; Ấn Độ đạt 361,7 triệu USD, chiếm 10,6%; Indonesia đạt 340,2 triệu USD, chiếm 10%; Philippines đạt 193,6 triệu USD, chiếm 5,7%; Kazakhstan đạt 149,9 triệu USD, chiếm 4,4%; Hoa Kỳ đạt gần 100 triệu USD, chiếm 2,9%.
Nhìn tổng thể, hoạt động đầu tư trong 10 tháng năm 2026 ghi nhận nhiều điểm sáng, đặc biệt ở khả năng thu hút vốn FDI và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Tổng vốn FDI đăng ký tăng mạnh, vốn thực hiện tiếp tục lập mức cao trong nhiều năm, trong khi đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam cũng mở rộng đáng kể.
Tuy nhiên, tiến độ thực hiện vốn đầu tư công giữa các bộ, ngành còn có sự chênh lệch, đặt ra yêu cầu tiếp tục tháo gỡ vướng mắc trong triển khai dự án, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Cùng với đó, việc nâng cao chất lượng dòng vốn FDI, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là yếu tố quan trọng để chuyển hóa dòng vốn đầu tư thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng bền vững cho nền kinh tế.