Chín tháng đầu năm 2026, kinh tế Bắc Ninh tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực. GRDP ước tăng 11,8%, xếp thứ tư trong 34 tỉnh, thành phố. Tổng giá trị xuất nhập khẩu đạt 178 tỷ USD, đứng đầu cả nước. Kim ngạch xuất khẩu đạt 88,3 tỷ USD, tăng 31,7%, chiếm khoảng 20,15% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước.
Hoạt động thu hút đầu tư cũng duy trì sức hấp dẫn. Trong 9 tháng, Bắc Ninh thu hút hơn 22 tỷ USD vốn đầu tư quy đổi, tăng 22,5% so với cùng kỳ; riêng vốn FDI đạt khoảng 4,1 tỷ USD, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 127.600 tỷ đồng, tăng 17,88%.
Những kết quả này cho thấy Bắc Ninh tiếp tục là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu lớn chưa đồng nghĩa toàn bộ giá trị tạo ra được giữ lại trong nền kinh tế địa phương. Hiệu quả phát triển còn phụ thuộc vào mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng, năng lực làm chủ công nghệ và khả năng cung cấp nguyên liệu, linh kiện, dịch vụ cho các nhà sản xuất quy mô lớn.
![]() |
| Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng và đoàn công tác Chính phủ làm việc với Thành phố về thực hiện các giải pháp thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng 2 con số. (Ảnh: chinhphu.vn/Đức Tuân) |
Tại cuộc làm việc với Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ngày 14/10, lãnh đạo Chính phủ đã chỉ rõ một trong những hạn chế của Bắc Ninh là nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc đáng kể vào khu vực FDI, trong khi hoạt động gia công, lắp ráp vẫn chiếm tỷ trọng cao. Số doanh nghiệp trong nước tăng nhanh nhưng sức cạnh tranh còn hạn chế, chưa tham gia sâu vào chuỗi sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp FDI.
Đây không chỉ là câu chuyện riêng của Bắc Ninh mà còn là vấn đề đặt ra đối với quá trình phát triển công nghiệp của nhiều địa phương. Khi các tập đoàn lớn nắm giữ những khâu có hàm lượng công nghệ, thiết kế và giá trị gia tăng cao, doanh nghiệp nội địa nếu chỉ đảm nhận các công đoạn đơn giản sẽ khó nâng cao năng suất và tích lũy năng lực cạnh tranh dài hạn.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra không phải giảm vai trò của FDI, mà là làm cho dòng vốn này gắn kết chặt chẽ hơn với nền kinh tế trong nước. Mỗi dự án đầu tư cần được nhìn nhận không chỉ qua quy mô vốn, diện tích sử dụng đất hay sản lượng xuất khẩu, mà còn qua khả năng hình thành mạng lưới nhà cung ứng, đào tạo lao động, chuyển giao công nghệ và tạo thêm cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam.
![]() |
| Các đại biểu phát biểu ý kiến tại buổi làm việc. (Ảnh: chinhphu.vn/Đức Tuân) |
Để chuyển lợi thế thu hút đầu tư thành năng lực phát triển bền vững, Bắc Ninh cần chú trọng xây dựng hệ sinh thái công nghiệp có sự tham gia thực chất của doanh nghiệp trong nước. Trong đó, công nghiệp hỗ trợ là một hướng đi quan trọng, giúp các doanh nghiệp nội địa từng bước cung cấp linh kiện, phụ tùng, vật liệu và dịch vụ kỹ thuật cho những ngành sản xuất chủ lực.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu địa phương chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo số lượng sang thu hút theo chất lượng, hiệu quả và khả năng lan tỏa; ưu tiên nhà đầu tư chiến lược trong các lĩnh vực có lợi thế, nhất là công nghệ cao, vi mạch bán dẫn và công nghiệp hỗ trợ. Cùng với đó là nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Để định hướng này đi vào thực tế, doanh nghiệp nội địa cần được hỗ trợ tiếp cận thông tin về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình kiểm định, yêu cầu chất lượng và kế hoạch mua hàng của các tập đoàn lớn. Nâng cấp máy móc, quản trị chất lượng, đào tạo nhân lực và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế là những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể trở thành nhà cung ứng ổn định.
Về phía chính quyền, việc cải thiện môi trường kinh doanh cần gắn với giải quyết những trở ngại cụ thể trong hoạt động sản xuất. Nguồn điện, lao động, thủ tục hành chính, nhập khẩu nguyên liệu và vận chuyển hàng hóa đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ vận hành của dự án. Tháo gỡ kịp thời những điểm nghẽn này không chỉ giúp các nhà đầu tư mở rộng sản xuất mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp cung ứng trong nước tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất.
Hạ tầng giao thông và logistics cũng giữ vai trò quan trọng. Các dự án như đường Vành đai 4, Vành đai 5, Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và những tuyến kết nối liên vùng được kỳ vọng cải thiện năng lực vận chuyển, giảm chi phí và tăng khả năng kết nối thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế sẽ phụ thuộc vào tiến độ triển khai, khả năng khai thác và sự phát triển đồng bộ của các dịch vụ hậu cần.
![]() |
| Bí thư Thành ủy Bắc Ninh Nguyễn Hồng Thái phát biểu tại cuộc làm việc . (Ảnh chinhphu.vn/Đức Tuân) |
Bắc Ninh đang đứng trước yêu cầu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP 14,37% trong quý IV/2026 theo chỉ tiêu được giao tại Nghị quyết số 312/NQ-CP của Chính phủ. Để đạt mục tiêu, địa phương cần thúc đẩy các dự án đã được chấp thuận hoặc mở rộng sản xuất sớm đi vào hoạt động, hỗ trợ những dây chuyền đủ điều kiện tạo sản lượng trong những tháng cuối năm.
Dù vậy, tăng trưởng trong một quý chỉ là mục tiêu trước mắt. Vấn đề dài hạn là làm sao duy trì năng lực sản xuất, nâng năng suất lao động và gia tăng giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị vốn đầu tư. Nếu tăng trưởng tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô sản xuất mà chưa cải thiện đáng kể năng lực của doanh nghiệp nội địa, sức chống chịu trước biến động chuỗi cung ứng và thị trường quốc tế vẫn là một thách thức.
Bên cạnh công nghiệp, Bắc Ninh cần phát triển hệ sinh thái dịch vụ chất lượng cao, bao gồm logistics, kho bãi thông minh, thương mại điện tử và dịch vụ tài chính. Việc liên kết với các địa phương trong vùng về giao thông, năng lượng, nhân lực và chuỗi cung ứng sẽ giúp mở rộng không gian phát triển, tránh cạnh tranh thu hút dự án bằng mọi giá.
Chất lượng tăng trưởng cũng gắn liền với điều kiện sống của người lao động. Những hạn chế về nhà ở cho thuê, chi phí sinh hoạt và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hút, giữ chân nhân lực tại các khu công nghiệp. Phát triển nhà ở xã hội, thiết chế công đoàn và các chính sách an sinh phù hợp vì thế cần được xem là một phần của hạ tầng phục vụ sản xuất.
Với nền tảng công nghiệp và xuất khẩu hiện có, Bắc Ninh có nhiều điều kiện để tiếp tục duy trì vị thế đầu tàu. Nhưng thước đo quan trọng hơn trong giai đoạn tới không chỉ là thu hút thêm bao nhiêu vốn FDI hay xuất khẩu tăng bao nhiêu phần trăm, mà còn là có thêm bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng, năng lực công nghệ được cải thiện đến đâu và giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế lớn hơn như thế nào.
Khi doanh nghiệp nội địa đủ sức đứng vững trong chuỗi cung ứng của các tập đoàn toàn cầu, dòng vốn FDI mới thực sự trở thành động lực lan tỏa, giúp Bắc Ninh vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa củng cố nền tảng phát triển dài hạn.