Cây trồng Công nghệ Sinh học đóng góp vào sự phát triển trong Nông nghiệp tại Việt Nam

DNHN - Nhiều giống cây trồng được tạo ra bằng công nghệ sinh học đã có mặt ở Việt Nam, giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao thu nhập nhờ việc tăng năng suất và giảm thiểu chi phí thuốc bảo vệ thực vật.

Trong những thập niên đầu của thế kỷ 21, với lĩnh vực nông nghiệp, chúng ta chứng kiến sự bứt phá của khoa học, đặc biệt là công nghệ sinh học với những phát minh của công nghệ di truyền, công nghệ gien, công nghệ vi sinh… Nhiều giống cây trồng được tạo ra bằng công nghệ sinh học đã có mặt ở Việt Nam, giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao thu nhập nhờ việc tăng năng suất và giảm thiểu chi phí thuốc bảo vệ thực vật.

Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng (VSTA) cùng TW Hội Nông dân Việt Nam (HND) và Tổ chức Quốc tế và Ứng dụng và Tiếp Thu Công nghệ sinh học trong Nông nghiệp (ISAAA) đã đồng tổ chức hội thảo với chủ đề: “Đóng góp của cây trồng Công nghệ Sinh học trong Nông nghiệp tại Việt Nam”. Với sự sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, nhà khoa học, đại diện Sở Nông nghiệp các tỉnh, các chuyên gia quốc tế, các công ty trong và ngoài nước, hội thảo là diễn đàn chia sẻ thông tin về hiện trạng ứng dụng cây trồng Công nghệ Sinh học (CNSH) trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam và đặc biệt thảo luận về các tác động kinh tế, xã hội và môi trường của ngô CNSH sau 5 năm cấp phép canh tác trong nước. 

Ứng dụng công nghệ sinh học góp phần tăng năng suất và giảm thiểu chi phí thuốc bảo vệ thực vật Ảnh tư liệu
Ứng dụng công nghệ sinh học góp phần tăng năng suất và giảm thiểu chi phí thuốc bảo vệ thực vật Ảnh tư liệu.

Công nghệ sinh học (CNSH) ứng dụng trong nông nghiệp được xem là một trong các thành tựu khoa học nổi bật của thế kỷ trước, cho tới nay vẫn đang được minh chứng tính ưu việt bởi số liệu ứng dụng ngày một tăng trên toàn cầu cũng như những tác động kinh tế, xã hội và môi trường tích cực mà công nghệ mang lại cho nông dân, người tiêu dùng và cộng đồng. Theo báo cáo của tổ chức ISAAA, với việc có thêm 3 quốc gia Châu Phi, số lượng các quốc gia canh tác cây trồng CNSH đã tăng lên 29 vào năm 2019. Trong đó, 5 quốc gia dẫn đầu với diện tích cây trồng CNSH lớn nhất là Hoa Kỳ, Brazil, Argentina, Canada và Ấn Độ. Ước tính, khoảng 1,95 tỷ người, tương đương với 26% dân số thế giới, được hưởng lợi từ CNSH vào năm 2019.

Năm 2019, tổng cộng có 190,4 triệu héc-ta cây trồng CNSH được canh tác góp phần quan trọng vào giải quyết các vấn đề về an ninh lương thực, tính bền vững, giảm thiểu biến đổi khí hậu cũng như nâng cao đời sống của hơn 17 triệu nông dân ứng dụng CNSH cùng gia đình của họ trên toàn cầu. Việt Nam là một trong 3 nước có tốc độ tăng trưởng diện tích trồng cây CNSH đạt đến hai con số cùng với Philippines và Colombia”.

Phân tích về các tác động của cây trồng CNSH ở phạm vi toàn cầu, Tiến sỹ Graham Brookes – Viện PG Economic đã dẫn chứng các số liệu trong nghiên cứu gần nhất phát hành năm 2020: “Tính đến năm 2018, tổng thu nhập gia tăng dành cho nông dân canh tác cây trồng CNSH là 19 tỷ đô la Mỹ - theo đó với mỗi đô la Mỹ chi phí đầu tư thêm cho hạt giống CNSH, lợi nhuận thu được thêm là 4,42 đô la Mỹ. Bên cạnh đó, chỉ tính riêng năm 2018, cây trồng CNSH cũng giúp hạn chế tổng lượng CO2 thải ra môi trường khoảng 23 tỷ kilogram tương đương với việc loại bỏ 15.3 triệu ô tô lưu thông trên đường trong 1 năm”. Theo TS. Graham, nông dân đặc biệt là những nông hộ có quy mô sản xuất nhỏ tại các nước đang phát triển thu được lợi ích rõ ràng hơn từ cây trồng CNSH, không chỉ từ việc năng suất cây trồng tăng (từ 10 tới 16,5% tuỳ loại cây trồng),  lợi nhuận tăng (trung bình khoảng 103 đô la Mỹ/ha) mà còn giúp giảm lượng thuốc BVTV sử dụng từ đó giảm bớt các tác động tiêu cực lên môi trường khoảng 19% (theo chỉ số EIQ).

Tại Việt Nam, cây trồng CNSH đã được chính thức được cấp phép canh tác thương mại từ 2014-2015 trên cây ngô. Ngô cũng là một trong các cây trồng chính trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp và Việt Nam cũng là một trong các quốc gia canh tác ngô nhiều nhất trên thế giới. Việc đưa các giống CNSH thời điểm đó được xem là một trong các công cụ quan trọng giúp tiếp tục nâng cao năng suất và chất lượng sản xuất, gia tăng giá trị và giúp nông dân trồng ngô có thêm lợi nhuận, từ đó củng cố năng lực của Việt Nam trong việc đảm bảo nguồn cung cho chuỗi thực phẩm và thức ăn chăn nuôi trong nước. 

Việc ứng dụng hướng tới luôn đảm bảo nguồn cung cho chuỗi thực phẩm trong nước Ảnh tư liệu
Việc ứng dụng hướng tới luôn đảm bảo nguồn cung cho chuỗi thực phẩm trong nước Ảnh tư liệu.

Năm 2019, tổng diện tích canh tác ngô CNSH khoảng 92.000 héc-ta, chiếm khoảng 10% tổng diện tích trồng ngô cả nước. Đặc biệt, tỷ lệ tăng trưởng hai con số về mặt diện tích trong các năm gần đây cho thấy mức độ chấp nhận của nông dân đối với công nghệ này đang tăng. Cụ thể vào năm 2015, tỷ lệ ứng dụng còn khiêm tốn khoảng 3,500 héc-ta chiếm chưa tới 1% tổng diện tích; tới nay diện tích ứng dụng đã tăng hơn 26 lần. Chỉ so sánh riêng giai đoạn 2018 – 2019, tỷ lệ tăng trưởng là 86%.

Vào năm 2019 – 2020, Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam phối hợp với Viện PG Economics (Anh Quốc) đã tiến hành một nghiên cứu đánh giá và phân tích tác động của cây ngô CNSH với các tính trạng chuyển gien kháng sâu và chống chịu thuốc trừ cỏ sau 5 năm canh tác. Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn nông dân trồng ngô (cả các giống ngô lai thường và ngô CNSH) tại các vùng sản xuất ngô trọng điểm của cả nước. Đây cũng là nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ nông hộ tại Việt Nam về cây trồng CNSH.

Hải Minh

Tin liên quan