| Thông tư 124/2026/TT-BTC: Kiểm tra xuất xứ hàng nhập khẩu bước vào cơ chế quản lý rủi ro Thông tư 124/2026/TT-BTC: Quản lý rủi ro C/O hàng nhập khẩu, doanh nghiệp cần lưu ý gì? |
Doanh nghiệp thường nhìn C/O dưới góc độ thuế suất. Nhưng khi việc kiểm tra chứng từ xuất xứ được gắn với quản lý rủi ro, bài toán lớn hơn xuất hiện: xuất xứ hàng hóa có thể tác động trực tiếp tới thời gian thông quan, chi phí vốn, quan hệ với nhà cung cấp và độ ổn định của cả chuỗi nhập khẩu.
![]() |
| Thông tư 124/2026/TT-BTC: C/O, ưu đãi thuế và quản trị chuỗi cung ứng doanh nghiệp |
Một vấn đề xuất xứ có thể biến thành vấn đề dòng tiền
Hàng hóa nhập khẩu được hưởng ưu đãi thuế không chỉ vì doanh nghiệp xuất trình một chứng từ có tên “C/O”. Khoản 1 Điều 15 Thông tư 33/2023/TT-BTC đặt việc kiểm tra trong mối liên hệ giữa quy tắc xuất xứ của từng hiệp định, thông tin khai trên chứng từ, hồ sơ hải quan và hàng hóa thực tế.
Vì thế, nếu một ưu đãi thuế được đưa vào phương án giá nhưng sau đó chứng từ xuất xứ không được chấp nhận, bài toán không dừng ở thủ tục. Giá vốn, biên lợi nhuận và nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đều có thể thay đổi.
Với hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp nhỏ trực tiếp nhập hàng, độ nhạy càng lớn. Một khoản thuế phát sinh ngoài dự kiến có thể không lớn đối với tập đoàn, nhưng đủ làm mất lợi nhuận của cả lô hàng đối với một SME.
“Rủi ro thấp” hôm nay không phải giấy thông hành vĩnh viễn
Điều 17 Luật Hải quan xác định quản lý rủi ro là quá trình thu thập và xử lý thông tin, đánh giá tuân thủ, phân loại mức độ rủi ro và áp dụng biện pháp quản lý phù hợp. Điều này cho thấy trạng thái rủi ro về bản chất là trạng thái động.
Doanh nghiệp từng nhiều năm thông quan thuận lợi vẫn không nên coi quá khứ là bảo đảm cho tương lai. Chỉ cần thay nhà cung cấp, thay nước sản xuất, thay tuyến vận chuyển hoặc chuyển sang một nhóm hàng có đặc tính rủi ro khác, hồ sơ cần được đánh giá lại từ đầu.
Ngược lại, đây cũng là cơ hội đối với doanh nghiệp nhỏ. Một SME không thể cạnh tranh với tập đoàn về nguồn lực pháp chế, nhưng hoàn toàn có thể cạnh tranh về chất lượng dữ liệu: khai đúng, lưu chứng từ tốt, phản hồi nhanh và hạn chế sai sót lặp lại.
Từ bộ phận xuất nhập khẩu đến bàn của chủ doanh nghiệp
Sau Thông tư 124, quản trị xuất xứ nên được đặt trong ba quyết định kinh doanh: chọn nhà cung cấp, đàm phán hợp đồng và định giá hàng nhập khẩu.
Khi chọn nhà cung cấp, cần đánh giá khả năng chứng minh xuất xứ chứ không chỉ giá bán. Khi ký hợp đồng, phải phân định trách nhiệm nếu C/O hoặc chứng từ tự chứng nhận bị bác bỏ vì thông tin từ phía người bán. Khi tính giá vốn, doanh nghiệp nên có phương án dự phòng nếu ưu đãi thuế không được chấp nhận ngay.
Cần đặc biệt lưu ý rằng khoản 10 Điều 15 được Thông tư 124 bổ sung chỉ quy định cách thức kiểm tra dựa trên quản lý rủi ro; nó không phải cơ chế miễn trách nhiệm cho người nhập khẩu và cũng không làm giảm yêu cầu về tính hợp lệ của chứng từ.
Thông tư 33/2023/TT-BTC hiện vẫn được Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật ghi nhận còn hiệu lực; Nghị định 31/2018/NĐ-CP về xuất xứ hàng hóa cũng đang còn hiệu lực.
Nếu nhìn rộng hơn một câu sửa đổi, Thông tư 124 gửi tới thị trường một tín hiệu khá rõ: thuận lợi hóa thương mại và kiểm soát rủi ro đang đi cùng nhau. Doanh nghiệp có dữ liệu tốt, nhà cung cấp minh bạch và lịch sử tuân thủ ổn định có nhiều cơ sở để giảm ma sát thủ tục. Doanh nghiệp quản trị xuất xứ theo kiểu “hàng về rồi mới hỏi C/O ở đâu” sẽ ngày càng phải trả giá bằng thời gian, chi phí và rủi ro pháp lý.
Đối với doanh nhân, C/O vì thế không còn chỉ là chứng từ để bộ phận logistics cất trong hồ sơ. Nó đã trở thành một phần của quản trị thuế, quản trị nhà cung cấp và quản trị dòng tiền.
