| Thông tư 76/2026/TT-BXD: Định mức chi phí khảo sát hàng hải 43%, hiệu quả ngân sách được kiểm soát ra sao? |
Thông tư 76/2026/TT-BXD xác định định mức lợi nhuận 7,2% đối với hai nhóm dịch vụ vận hành, bảo trì và 6% đối với hoạt động khảo sát định kỳ phục vụ công bố thông báo hàng hải. Những con số này không phải mức lợi nhuận ròng được Nhà nước bảo đảm cho mọi doanh nghiệp. Chúng là căn cứ tính toán trong giá dịch vụ công đặt hàng. Vấn đề cần phân tích là cơ sở tính lợi nhuận, khả năng kiểm soát chi phí và trách nhiệm bảo vệ hiệu quả sử dụng ngân sách.
Lợi nhuận được tính trên cơ sở nào?
Theo khoản 3 Điều 2 Thông tư 76/2026/TT-BXD và Mục III Phụ lục, định mức lợi nhuận áp dụng cho ba nhóm dịch vụ lần lượt là 7,2%, 7,2% và 6%.
Tuy nhiên, muốn hiểu đúng quy định, không thể chỉ nhìn vào tỷ lệ.
Khoản 3 Mục II Phụ lục xác định lợi nhuận bằng tỷ lệ phần trăm định mức nhân với tổng chi phí sản xuất, kinh doanh trong giá dịch vụ sự nghiệp công bảo đảm an toàn hàng hải, không bao gồm chi phí sửa chữa tài sản cố định trực tiếp thuộc điểm e khoản 1 Mục I Phụ lục.
Trong khi đó, điểm a khoản 1 và khoản 2 Mục II quy định chi phí sản xuất chung và chi phí quản lý được tính theo tỷ lệ trên chi phí tiền lương của lao động trực tiếp sản xuất.
Như vậy, ba nhóm định mức không sử dụng cùng một cơ sở tính toán.
Lấy ví dụ thuần túy minh họa: nếu tổng chi phí sản xuất, kinh doanh đủ điều kiện làm cơ sở tính lợi nhuận của một dịch vụ là 10 tỷ đồng, mức định mức lợi nhuận 7,2% tương ứng 720 triệu đồng trong cấu phần xác định giá.
Con số giả định này không phải doanh thu, lợi nhuận thực tế hoặc mức thanh toán được phê duyệt cho một hợp đồng cụ thể.
Điều đáng chú ý là quy định loại trừ chi phí sửa chữa tài sản cố định trực tiếp khỏi cơ sở tính lợi nhuận. Nếu áp dụng nhầm tỷ lệ lợi nhuận trên cả khoản chi đã được loại trừ, kết quả tính giá có nguy cơ cao hơn căn cứ mà Thông tư cho phép.
Đây là rủi ro nghiệp vụ cần được kiểm soát ngay từ khâu lập phương án giá.
![]() |
| Thông tư 76/2026/TT-BXD: Lợi nhuận 6–7,2% trong dịch vụ công hàng hải, ngân sách được kiểm soát ra sao? |
Đặt hàng dịch vụ công không đồng nghĩa trả tiền mà thiếu đánh giá
Thông tư 76 được ban hành trong khuôn khổ cơ chế cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ kinh phí chi thường xuyên.
Nghị định 32/2019/NĐ-CP là một trong những căn cứ pháp lý được Thông tư viện dẫn, quy định về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công.
Đối với phạm vi của Thông tư 76, phương thức được xác định là đặt hàng.
Đây là điểm cần phân biệt khi đánh giá tác động thị trường: văn bản không quy định mọi dịch vụ an toàn hàng hải đều phải tổ chức đấu thầu cạnh tranh, cũng không mở ra cơ chế cho mọi doanh nghiệp tự nhận đơn đặt hàng từ ngân sách.
Theo điểm b khoản 2 Điều 1, Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam là một trong những chủ thể áp dụng trực tiếp; việc xác định giá phải bám những dịch vụ tại khoản 1 Điều 1 và các định mức tương ứng.
Từ góc nhìn quản trị ngân sách, có định mức rõ ràng là điều kiện cần nhưng chưa phải điều kiện đủ.
Nếu chỉ kiểm tra tỷ lệ tính giá mà thiếu đối chiếu khối lượng công việc, chất lượng bảo trì, kết quả khảo sát và hồ sơ nghiệm thu, cơ chế đặt hàng có thể khó phản ánh đầy đủ hiệu quả thực hiện.
Ở chiều ngược lại, nếu cắt giảm chi phí bằng cách xem nhẹ yêu cầu kỹ thuật, chất lượng bảo đảm an toàn hàng hải có thể chịu tác động bất lợi.
Vì vậy, kiểm soát ngân sách phải đặt cùng mục tiêu chất lượng, không chỉ hướng tới giảm giá trị đặt hàng.
Doanh nghiệp tư nhân đứng ở đâu trong cơ chế này?
Đối với chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực cung cấp vật tư hàng hải, thiết bị điện, cơ khí, công nghệ hoặc dịch vụ hỗ trợ, định mức của Thông tư 76 có thể giúp nhận diện cách một số cấu phần giá dịch vụ công được xác lập.
Nhưng không thể suy luận từ đó rằng một nhà cung cấp tư nhân đương nhiên được hưởng tỷ suất lợi nhuận 7,2% khi bán hàng cho đơn vị thực hiện đặt hàng.
Hợp đồng cung ứng vật tư, dịch vụ giữa các chủ thể phải được xem xét theo căn cứ pháp lý và thỏa thuận áp dụng cho giao dịch đó.
Định mức lợi nhuận trong Thông tư 76 không phải trần lợi nhuận chung của doanh nghiệp hàng hải, cũng không phải tỷ suất lợi nhuận bắt buộc đối với các nhà thầu phụ.
Với doanh nghiệp vận tải và logistics, lợi ích nếu có là gián tiếp: nguồn lực ngân sách được sử dụng hiệu quả có thể góp phần duy trì chất lượng hạ tầng an toàn hàng hải, qua đó hỗ trợ điều kiện khai thác.
Chưa có cơ sở từ văn bản để khẳng định định mức mới sẽ trực tiếp làm giảm phí hàng hải hoặc cước vận tải của doanh nghiệp.
Lợi nhuận hợp lý phải đi cùng giá dịch vụ có thể kiểm chứng
Thông tư 76/2026/TT-BXD xác định các tỷ lệ lợi nhuận và phương pháp tính phục vụ xây dựng giá dịch vụ công bảo đảm an toàn hàng hải.
Điểm cần kiểm soát chặt là cơ sở tính toán, đặc biệt khoản sửa chữa tài sản cố định trực tiếp bị loại trừ khỏi cơ sở xác định lợi nhuận.
Đối với cơ quan đặt hàng và đơn vị cung cấp dịch vụ, yêu cầu thực tiễn là gắn phương án giá với khối lượng, hồ sơ chi phí và kết quả thực hiện.
Đối với doanh nghiệp tư nhân trong chuỗi cung ứng, cần hiểu đúng phạm vi áp dụng để tránh lấy định mức dịch vụ công làm căn cứ áp đặt lợi nhuận cho các hợp đồng thương mại khác.
Ngân sách chỉ được sử dụng hiệu quả khi khoản chi có căn cứ và dịch vụ nhận lại đáp ứng đúng mục tiêu an toàn hàng hải.
| Đón đọc kỳ 3: Thông tư 76/2026/TT-BXD: Định mức an toàn hàng hải từ năm 2027, hiệu quả ngân sách được bảo đảm ra sao? |
