Một cơ chế định mức chi phí, lợi nhuận rõ ràng giúp tạo nền tảng xác định giá dịch vụ công. Nhưng hiệu quả của ngân sách không chỉ nằm trong bảng tính. Thông tư 76/2026/TT-BXD có hiệu lực từ ngày 01/12/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2027, đồng thời giao trách nhiệm thường xuyên rà soát định mức. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để việc đặt hàng dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, kiểm soát chi phí và hỗ trợ hoạt động kinh tế biển một cách bền vững.
Hiệu lực từ tháng 12/2026, áp dụng từ năm tài chính 2027: Không thể đánh đồng
Khoản 1 Điều 3 Thông tư 76/2026/TT-BXD quy định văn bản có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2026, nhưng áp dụng từ năm tài chính 2027.
Hai mốc thời gian có ý nghĩa khác nhau đối với hoạt động lập dự toán, xây dựng phương án giá và tổ chức thực hiện đặt hàng dịch vụ công.
Tính đến ngày 03/11/2026, Thông tư chưa có hiệu lực. Vì vậy, việc mô tả các tỷ lệ mới như một cơ chế đã được triển khai trong năm tài chính 2026 là không chính xác.
Đối với cơ quan đặt hàng và đơn vị cung cấp dịch vụ, năm 2027 là mốc cần được xác định khi xây dựng hồ sơ áp dụng định mức theo Thông tư 76.
Cùng với đó, khoản 3 Điều 3 quy định trường hợp văn bản được viện dẫn bị sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo văn bản mới tương ứng.
Điều này đặt ra yêu cầu cập nhật pháp luật khi xác định giá, thay vì sử dụng cố định một bộ căn cứ trong suốt nhiều năm.
Đối với doanh nghiệp nhỏ cung cấp dịch vụ, vật tư cho hoạt động hàng hải, cần xem xét thời điểm ký kết và thực hiện hợp đồng, cũng như căn cứ xác định giá giữa các bên. Thông tư 76 không tự động điều chỉnh lại giá mọi hợp đồng thương mại đã giao kết trước năm 2027.
![]() |
| Thông tư 76/2026/TT-BXD: Định mức an toàn hàng hải từ năm 2027, hiệu quả ngân sách được bảo đảm ra sao? |
Định mức phải được rà soát: Nếu chi phí thay đổi, ai chịu trách nhiệm cập nhật?
Khoản 2 Điều 3 Thông tư 76 giao Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam thường xuyên rà soát các định mức ban hành tại Điều 2, báo cáo Bộ Xây dựng để sửa đổi, bổ sung phù hợp theo pháp luật.
Đây là quy định quan trọng nếu nhìn từ góc độ hiệu quả ngân sách.
Chi phí vận hành hạ tầng hàng hải chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kỹ thuật, yêu cầu bảo trì, khối lượng công việc và những yếu tố đầu vào khác. Một hệ thống định mức không được rà soát có thể dần xa rời thực tiễn thực hiện dịch vụ.
Tuy nhiên, việc rà soát không đồng nghĩa cứ chi phí đầu vào tăng thì tỷ lệ định mức đương nhiên được nâng lên.
Cơ quan quản lý cần có dữ liệu chứng minh tính hợp lý của đề xuất điều chỉnh, xem xét cơ sở tính giá và ảnh hưởng đến nguồn ngân sách đặt hàng.
Mục III Phụ lục cho thấy định mức chi phí sản xuất chung giữa ba nhóm dịch vụ chênh lệch đáng kể, từ 15,6% đến 43%.
Nhưng chỉ nhìn vào sự chênh lệch tỷ lệ để đề nghị điều chỉnh là chưa đủ. Theo Mục II Phụ lục, các định mức chi phí này tính trên chi phí tiền lương của lao động trực tiếp, còn lợi nhuận tính trên tổng chi phí sản xuất, kinh doanh sau khi loại trừ phần sửa chữa tài sản cố định trực tiếp theo quy định.
Vì vậy, quá trình rà soát cần chú trọng dữ liệu chi phí thực tế, khối lượng dịch vụ và việc phân loại khoản mục.
Đây cũng là cơ sở để hạn chế nguy cơ định mức được điều chỉnh theo cảm nhận hoặc chỉ dựa trên một chỉ tiêu riêng lẻ.
Kinh tế biển hưởng lợi khi chất lượng dịch vụ công được bảo đảm
Đối tượng áp dụng trực tiếp được nêu tại khoản 2 Điều 1 gồm Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam và các chủ thể liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công tương ứng.
Những doanh nghiệp vận tải biển, logistics, cảng biển hoặc hộ kinh doanh dịch vụ phụ trợ không phải là chủ thể đương nhiên được áp dụng định mức để tính chi phí và lợi nhuận của mình.
Tuy nhiên, hoạt động của họ gắn với điều kiện an toàn và khả năng khai thác của hệ thống hàng hải công cộng.
Theo điểm a, b và c khoản 1 Điều 1, dịch vụ thuộc phạm vi Thông tư bao gồm vận hành, bảo trì đèn biển, đăng tiêu độc lập; hệ thống báo hiệu luồng hàng hải; khảo sát định kỳ phục vụ công bố thông báo hàng hải.
Những hoạt động này có vai trò đối với việc duy trì thông tin và điều kiện bảo đảm an toàn hàng hải.
Đối với chuỗi logistics, chất lượng dịch vụ công ổn định có thể hỗ trợ việc tổ chức khai thác. Nhưng không thể từ định mức chi phí mới suy ra số ngày tàu chờ sẽ giảm, năng suất cảng tăng hoặc doanh nghiệp được giảm cước.
Đó là những kết quả cần dữ liệu vận hành thực tế để kiểm chứng.
Đối với doanh nghiệp nhỏ cung cấp thiết bị, vật tư hoặc dịch vụ hỗ trợ, điều cần chuẩn bị là năng lực kỹ thuật, hồ sơ nghiệm thu, tính minh bạch của báo giá và khả năng đáp ứng các điều kiện hợp đồng cụ thể.
Nếu cơ hội kinh doanh phát sinh trong chuỗi cung ứng, quyền tham gia và nghĩa vụ hợp đồng phải được xác định theo quy định áp dụng, không chỉ dựa vào Thông tư 76.
Định mức là điểm khởi đầu, hiệu quả dịch vụ mới là đích đến
Thông tư 76/2026/TT-BXD tạo cơ sở áp dụng định mức chi phí, lợi nhuận trong giá ba nhóm dịch vụ công bảo đảm an toàn hàng hải từ năm tài chính 2027.
Nhưng có định mức không đồng nghĩa mọi khoản chi đều hợp lý hoặc hiệu quả sử dụng ngân sách đã được bảo đảm.
Đối với cơ quan quản lý, nhiệm vụ quan trọng là rà soát định mức dựa trên dữ liệu, xác định đúng cơ sở tính giá và đối chiếu chất lượng dịch vụ.
Đối với đơn vị cung cấp dịch vụ, cần quản trị chi phí minh bạch, kiểm soát phần sửa chữa tài sản cố định trực tiếp và lưu giữ hồ sơ chứng minh kết quả thực hiện.
Đối với doanh nghiệp trong chuỗi kinh tế biển, lợi ích đáng quan tâm nhất không nằm ở một tỷ lệ lợi nhuận được ban hành, mà ở hệ thống dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải hoạt động ổn định, đáng tin cậy và được tài trợ bằng nguồn ngân sách sử dụng hiệu quả.
