| Thông tư 124/2026/TT-BTC: Kiểm tra xuất xứ hàng nhập khẩu bước vào cơ chế quản lý rủi ro |
Thông tư 124 đặt kiểm tra chứng từ xuất xứ vào cơ chế quản lý rủi ro. Điều đó có nghĩa C/O không nên được coi như một tờ giấy độc lập được nhà cung cấp gửi sang cùng bộ chứng từ. Với doanh nghiệp nhập khẩu, chất lượng quản trị nhà cung cấp, tính nhất quán của dữ liệu và lịch sử tuân thủ ngày càng liên kết với nhau.
![]() |
| Thông tư 124/2026/TT-BTC: Quản lý rủi ro C/O hàng nhập khẩu, doanh nghiệp cần lưu ý gì? |
Rủi ro đi theo cả doanh nghiệp và lô hàng
Theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 08/2015/NĐ-CP, việc đánh giá mức độ tuân thủ của người khai hải quan dựa trên các thông tin về tần suất vi phạm, tính chất – mức độ vi phạm và việc hợp tác với cơ quan hải quan. Khoản 2 Điều 15 cùng Nghị định tiếp tục cho phép xem xét đặc điểm hàng hóa, xuất xứ, tuyến vận chuyển và các yếu tố liên quan.
Vì vậy, một doanh nghiệp không nên nhìn rủi ro C/O theo từng container riêng lẻ. Một sai sót lặp lại trong khai báo, một chuỗi nhà cung cấp thường xuyên thay đổi hoặc sự thiếu nhất quán giữa chứng từ thương mại và thông tin xuất xứ đều có thể làm tăng nhu cầu kiểm tra.
Đối với SME, đây là thay đổi đáng suy nghĩ. Doanh nghiệp lớn thường có phòng xuất nhập khẩu và bộ phận tuân thủ. Trong khi đó, một công ty nhỏ có thể giao toàn bộ hồ sơ cho nhân viên logistics hoặc đại lý hải quan. Nhưng thuê người làm thủ tục không đồng nghĩa với chuyển toàn bộ rủi ro pháp lý ra bên ngoài.
C/O hợp lệ phải đứng được trong cả “hệ sinh thái chứng từ”
Khoản 1 Điều 15 Thông tư 33/2023/TT-BTC quy định đối với hàng nhập khẩu từ thị trường có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế với Việt Nam, cơ quan hải quan đối chiếu quy tắc xuất xứ tương ứng với thông tin trên chứng từ xuất xứ, bộ hồ sơ hải quan và kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa nếu có.
Điều đó cho thấy sai lầm phổ biến nhất là chỉ kiểm tra xem C/O “có hay không”. Câu hỏi quan trọng hơn phải là: C/O có phù hợp với toàn bộ giao dịch hay không?
Một doanh nghiệp nhập máy móc có thể nhận một C/O nhìn hoàn toàn hợp lệ, nhưng model trên invoice khác chứng từ xuất xứ; thông tin người xuất khẩu không khớp hợp đồng; hoặc quy trình sản xuất thực tế không đáp ứng quy tắc xuất xứ của hiệp định được viện dẫn. Khi đó, hình thức đẹp của tờ C/O không giải quyết được vấn đề bản chất.
SME cần quản trị nhà cung cấp như quản trị rủi ro thuế
Doanh nghiệp nên đưa xuất xứ hàng hóa ra khỏi “góc bàn logistics” và đặt nó vào quy trình mua hàng. Hợp đồng nhập khẩu cần có điều khoản buộc nhà cung cấp cung cấp chứng từ chứng minh xuất xứ, phối hợp giải trình và chịu trách nhiệm khi thông tin họ cung cấp không chính xác.
Tối thiểu, doanh nghiệp nên có một bộ hồ sơ riêng cho từng nhóm hàng: nhà sản xuất thực tế là ai; hàng được sản xuất tại đâu; quy tắc xuất xứ áp dụng là gì; C/O hoặc chứng từ tự chứng nhận dựa trên căn cứ nào; các chứng từ thương mại có thống nhất hay không.
Đây không phải sự cẩn trọng quá mức. Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan vẫn là văn bản hiện hành sau khi đã được sửa đổi một phần; Điều 8 và Điều 9 của Nghị định đặt ra trách nhiệm đối với hành vi khai sai xuất xứ, trong đó trường hợp làm ảnh hưởng nghĩa vụ thuế có thể chuyển sang chế tài gắn với số thuế thiếu.
Trong cơ chế quản lý rủi ro, một doanh nghiệp không thể mua “độ tin cậy” bằng một tờ C/O. Độ tin cậy phải được tạo ra từ cả chuỗi dữ liệu phía sau nó.
| Đón đọc kỳ cuối: Thông tư 124/2026/TT-BTC: C/O, ưu đãi thuế và quản trị chuỗi cung ứng doanh nghiệp |