Thứ tư 21/01/2026 14:03
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Góc nhìn Chuyên gia

Khi luật chưa theo kịp thực tiễn kinh tế trong khu vực sự nghiệp công

Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Nguyễn Văn Phúc phân tích sự thiếu vắng Luật Đơn vị Sự nghiệp đã khiến các tổ chức cung cấp dịch vụ công vận hành mập mờ giữa cơ chế công chức và doanh nghiệp, kìm hãm tự chủ.
Cần chấm dứt việc cấm doanh nhân xuất cảnh khi cơ quan thuế vẫn còn khả năng thu hồi Ông Nguyễn Văn Phúc: Đừng bắt hộ kinh doanh chơi luật doanh nghiệp nếu chưa có lối riêng

Trong bối cảnh cải cách hành chính và đổi mới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, ông Nguyễn Văn Phúc – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội – đã nêu bật một khoảng trống quan trọng trong khuôn khổ pháp lý hiện hành: đó là việc chưa có một đạo luật riêng, mang tính toàn diện, nhằm điều chỉnh hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Đây là những tổ chức giữ vai trò thiết yếu trong việc cung ứng dịch vụ công như giáo dục, y tế và khoa học. Sự thiếu hụt này dẫn đến những khó khăn trong công tác quản lý đội ngũ viên chức cũng như trong việc xác lập các nguyên tắc kinh tế phù hợp, ảnh hưởng đến hiệu quả và định hướng phát triển bền vững của khu vực sự nghiệp công.

Khi luật chưa theo kịp thực tiễn kinh tế trong khu vực sự nghiệp công
Ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội (Ảnh: Phan Chính)

Khoảng trống pháp lý và thách thức trong cơ chế kinh tế

Ông Nguyễn Văn Phúc chỉ rõ sự phân biệt rõ ràng giữa công chức – những người làm việc trong bộ máy quản lý nhà nước và được điều chỉnh bởi Luật Tổ chức – và viên chức, là lực lượng làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Việc tách biệt hai nhóm đối tượng này được xem là một bước tiến trong cải cách thể chế. Tuy nhiên, trong bối cảnh chưa có một đạo luật riêng điều chỉnh toàn diện cho khu vực sự nghiệp công, nhiều quy định liên quan đến viên chức vẫn còn thiếu tính nhất quán.

Hiện nay, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu dựa vào sự kết hợp và tham chiếu từ nhiều luật khác nhau như: Luật Doanh nghiệp, Luật Tổ chức bộ máy nhà nước, hoặc vẫn áp dụng cơ chế ngân sách truyền thống. Việc thiếu sự đồng bộ trong khung pháp lý đang tạo ra những thách thức trong quản lý tài chính, cơ chế thu – chi, ký kết hợp đồng dịch vụ công, cũng như trong việc sử dụng và khai thác nguồn lực công.

Một trong những hệ quả dễ nhận thấy là sự không rõ ràng trong quyền tự chủ và phạm vi trách nhiệm kinh tế của các đơn vị sự nghiệp. Khi thiếu quy định cụ thể, việc triển khai các hoạt động như tuyển dụng nhân sự chất lượng cao, thiết kế cơ chế đãi ngộ linh hoạt, hay thực hiện dịch vụ theo đơn đặt hàng từ xã hội đều gặp nhiều hạn chế.

Ông Phúc đưa ra một ví dụ điển hình về sự giao thoa giữa chức năng hành chính và dịch vụ: một đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ thu phí hành chính nhưng lại vận hành theo phương thức tương tự cơ quan công quyền, dẫn đến sự thiếu phân định rõ ràng giữa nguồn thu từ ngân sách và nguồn thu từ dịch vụ xã hội hóa.

Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi bàn đến việc phân định giữa đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp. Trong các tổ chức như trường đại học, viện nghiên cứu hay đơn vị cung ứng dịch vụ công, ranh giới giữa hai mô hình hoạt động không phải lúc nào cũng rõ ràng. Theo ông Phúc, nếu đơn vị vận hành theo mục tiêu lợi nhuận và có tính cạnh tranh trên thị trường, thì cần được điều chỉnh theo Luật Doanh nghiệp. Ngược lại, nếu đóng vai trò cung cấp dịch vụ công thiết yếu như giáo dục hay y tế, thì nên tuân theo cơ chế đặc thù của đơn vị sự nghiệp.

Việc chưa có sự phân định dứt khoát khiến nhiều đơn vị phải linh hoạt vận hành trong không gian của nhiều khung pháp lý khác nhau. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện thể chế để tạo điều kiện cho các đơn vị hoạt động minh bạch, hiệu quả và phù hợp với chức năng mà xã hội giao phó.

Khi luật chưa theo kịp thực tiễn kinh tế trong khu vực sự nghiệp công
Công chức làm việc trong bộ máy quản lý nhà nước, chịu sự điều chỉnh bởi Luật Tổ chức (Ảnh: Minh họa)

Giới hạn trong cơ chế hiện hành và đề xuất hoàn thiện pháp lý

Theo ông Nguyễn Văn Phúc, việc chưa có một đạo luật riêng điều chỉnh toàn diện các đơn vị sự nghiệp công lập đã tạo ra những hạn chế nhất định trong quá trình đổi mới và tăng cường quyền tự chủ thực chất của khu vực này. Các vấn đề như phân định trách nhiệm quản lý, xác định chi phí dịch vụ công, mở rộng cơ chế hợp đồng, hay thiết kế các mô hình tự chủ tài chính hiện vẫn thiếu cơ sở pháp lý thống nhất và rõ ràng.

Khi các đơn vị sự nghiệp vẫn vận hành chủ yếu theo cơ chế ngân sách truyền thống, trong đó nhiều quyết định chi tiêu, ký kết hợp đồng hay phân bổ nhân sự cần có sự phê duyệt từ cấp quản lý, thì động lực đổi mới và khả năng linh hoạt trong điều hành sẽ bị giới hạn. Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến những lĩnh vực cần đổi mới sáng tạo và tốc độ phản ứng nhanh như giáo dục đại học, y tế chuyên sâu và nghiên cứu khoa học – những lĩnh vực đang ngày càng gắn với yêu cầu về chất lượng dịch vụ và hiệu quả đầu tư xã hội.

Từ thực tiễn này, ông Phúc đề xuất cần sớm xây dựng một đạo luật riêng – Luật Đơn vị Sự nghiệp – với vai trò như khung pháp lý thống nhất cho toàn bộ hoạt động của khu vực sự nghiệp công. Đạo luật này cần làm rõ phạm vi hoạt động, mức độ quyền tự chủ, cơ chế trách nhiệm giải trình, tiêu chí tài chính, hình thức hợp đồng dịch vụ công, cũng như quy trình chuyển đổi đối với những đơn vị có điều kiện hoạt động tương tự doanh nghiệp. Trong đó, việc phân loại rõ giữa đơn vị cung cấp dịch vụ công thiết yếu và đơn vị có thể cung ứng theo hợp đồng sẽ là cơ sở để áp dụng các cơ chế điều hành phù hợp.

Bên cạnh quyền tự chủ, ông Phúc nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ chế giám sát hiệu quả. Cụ thể, cần quy định về kiểm toán độc lập, công khai báo cáo tài chính và đánh giá hoạt động định kỳ để đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công, đồng thời tăng cường tính minh bạch trong vận hành.

Đối với những đơn vị sự nghiệp có khả năng và nhu cầu hoạt động theo mô hình thị trường, cần có quy định cho phép chuyển đổi sang cơ chế vận hành theo Luật Doanh nghiệp, dựa trên các tiêu chí rõ ràng về hiệu quả tài chính, mức độ cạnh tranh và năng lực cung ứng dịch vụ. Việc hỗ trợ quá trình chuẩn bị – từ tăng cường năng lực quản trị, đào tạo nhân lực đến điều chỉnh mô hình tài chính – là yếu tố cần thiết giúp các đơn vị sẵn sàng thích ứng khi được giao quyền tự chủ cao hơn.

Ông Phúc cho rằng việc xây dựng một khung luật riêng không chỉ góp phần hoàn thiện thể chế, mà còn mở rộng không gian vận hành linh hoạt, phù hợp với yêu cầu đổi mới trong cung ứng dịch vụ công hiện đại, đồng thời giúp giảm áp lực quản lý trực tiếp lên cơ quan nhà nước và thúc đẩy hiệu quả sử dụng nguồn lực công.

Tin bài khác
Ông Phan Đức Hiếu: Sửa luật hỗ trợ doanh nghiệp, siết giám sát văn bản pháp luật hiệu quả

Ông Phan Đức Hiếu: Sửa luật hỗ trợ doanh nghiệp, siết giám sát văn bản pháp luật hiệu quả

Ông Phan Đức Hiếu đề xuất sớm sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời tăng cường giám sát chất lượng văn bản dưới luật nhằm tháo gỡ rào cản hành chính, kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng.
Luật sư Phạm Văn Học: Hoàn thiện thể chế để doanh nghiệp y tế tư nhân dám đầu tư dài hạn

Luật sư Phạm Văn Học: Hoàn thiện thể chế để doanh nghiệp y tế tư nhân dám đầu tư dài hạn

Thực tiễn phát triển Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương cho thấy, bên cạnh chủ trương xã hội hóa y tế, doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp nhiều rào cản pháp lý. Theo luật sư – doanh nhân Phạm Văn Học, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng hành, kiến tạo.
Ông Nguyễn Hữu Thập: Đột phá AI và tháo gỡ "ma trận" pháp lý cho doanh nghiệp

Ông Nguyễn Hữu Thập: Đột phá AI và tháo gỡ "ma trận" pháp lý cho doanh nghiệp

Ông Nguyễn Hữu Thập kiến nghị ứng dụng AI quản lý hành chính, sửa quy định hồi tố gây rủi ro doanh nghiệp, thúc đẩy cải cách thủ tục, nâng hiệu quả điều hành
Bà Phạm Thị Hồng Yên: Thúc đẩy ESG và pháp lý số mở đường doanh nghiệp bứt phá bền vững

Bà Phạm Thị Hồng Yên: Thúc đẩy ESG và pháp lý số mở đường doanh nghiệp bứt phá bền vững

Bà Phạm Thị Hồng Yên cho rằng, việc lan tỏa ESG và xây dựng hệ thống trợ giúp pháp lý số giúp doanh nghiệp tháo gỡ rào cản pháp lý tiếp cận nguồn lực nâng năng lực cạnh tranh bền
TS. Nguyễn Hải Nam: Chuyển giao công nghệ Nhật Bản mở lối tín dụng mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

TS. Nguyễn Hải Nam: Chuyển giao công nghệ Nhật Bản mở lối tín dụng mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

TS. Nguyễn Hải Nam đề xuất tận dụng công nghệ Nhật Bản kết hợp cải cách tín dụng dựa dòng tiền giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng năng lực cạnh tranh đầu tư vững.
Luật sư Phạm Văn Học: 3 điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp y tế tư nhân

Luật sư Phạm Văn Học: 3 điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp y tế tư nhân

Trong tiến trình cải cách thể chế và thúc đẩy kinh tế tư nhân, nhiều doanh nghiệp y tế vẫn “dám nghĩ nhưng chưa dám làm”. Theo luật sư, doanh nhân Phạm Văn Học, nguyên nhân nằm ở các điểm nghẽn mang tính hệ thống của môi trường kinh doanh.
Tăng trưởng hai con số là lựa chọn chiến lược cho mô hình phát triển mới

Tăng trưởng hai con số là lựa chọn chiến lược cho mô hình phát triển mới

Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV không phải “tăng tốc bằng mọi giá”, mà là lựa chọn chiến lược cho một mô hình phát triển dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và kỷ luật vĩ mô, theo PGS.TS Ngô Trí Long.
Ông Đặng Huy Đông: Chuyển đổi kép mở dư địa tăng trưởng GDP bền vững Việt Nam

Ông Đặng Huy Đông: Chuyển đổi kép mở dư địa tăng trưởng GDP bền vững Việt Nam

Theo ông Đặng Huy Đông chuyển đổi xanh và số có thể bổ sung 3% GDP mỗi năm, tạo nền tảng tăng trưởng hai chữ số, nâng sức cạnh tranh quốc gia, định vị Việt Nam trong kinh tế xanh.
Ông Jaime Amoedo Lucas: Việt Nam nên “xây bằng dữ liệu” để nâng sức cạnh tranh quốc gia

Ông Jaime Amoedo Lucas: Việt Nam nên “xây bằng dữ liệu” để nâng sức cạnh tranh quốc gia

Ông Jaime Amoedo Lucas, Chủ tịch, Giám đốc điều hành ESGI cho hay Green Digital Twin giúp Việt Nam tích hợp ESG chuyển đổi số tối ưu hạ tầng công nghiệp giảm phát thải bền vững.
GS. TS Bùi Minh Trung: ESG chuyển đổi xanh mở lối tăng trưởng bền vững doanh nghiệp Việt Nam

GS. TS Bùi Minh Trung: ESG chuyển đổi xanh mở lối tăng trưởng bền vững doanh nghiệp Việt Nam

Theo GS. TS Bùi Minh Trung, thực hành ESG cùng chuyển đổi xanh không chỉ là trách nhiệm mà còn trở thành động lực then chốt giúp doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.
Ông Farook Mahmood: Việt Nam củng cố lợi thế đầu tư giữa biến động lớn

Ông Farook Mahmood: Việt Nam củng cố lợi thế đầu tư giữa biến động lớn

Theo ông Farook Mahmood, Việt Nam hội tụ ổn định vĩ mô, lao động cạnh tranh, hạ tầng cải thiện, mạng lưới FTA rộng, song cần nâng dự báo pháp lý.
Ông Takayama Yusushi:Trụ cột Nhật Bản mở lộ trình bền vững nhà ở, Việt Nam có thể vận dụng

Ông Takayama Yusushi:Trụ cột Nhật Bản mở lộ trình bền vững nhà ở, Việt Nam có thể vận dụng

Ông Takayama Yusushi chia sẻ kinh nghiệm của Nhật Bản giải quyết khủng hoảng nhà ở, nhấn mạnh lãi suất thấp, quy hoạch đồng bộ, vai trò Nhà nước, gợi mở sách khả thi.
TS. Nguyễn Minh Phong: Chuẩn mực minh bạch định hình năng lực cạnh tranh quốc gia

TS. Nguyễn Minh Phong: Chuẩn mực minh bạch định hình năng lực cạnh tranh quốc gia

TS. Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh vai trò chuẩn mực minh bạch trong nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố niềm tin thị trường, cải thiện quản trị doanh nghiệp, giúp nền kinh tế thích ứng hiệu quả trước biến động toàn cầu.
Triển vọng vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam 2026: Đi tìm những câu chuyện tăng trưởng thực

Triển vọng vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam 2026: Đi tìm những câu chuyện tăng trưởng thực

Bước sang năm 2026, kinh tế toàn cầu và Việt Nam cùng đứng trước một giai đoạn chuyển pha quan trọng. Khi chu kỳ nới lỏng tiền tệ toàn cầu dần chạm trần, chính sách bắt đầu phân hóa rõ nét giữa các nền kinh tế lớn, thì câu hỏi trung tâm của thị trường không còn là “tăng trưởng có hay không”, mà là tăng trưởng đến từ đâu và có bền vững hay không.
TS. Cấn Văn Lực: Doanh nghiệp bất động sản buộc tái cấu trúc để tồn tại

TS. Cấn Văn Lực: Doanh nghiệp bất động sản buộc tái cấu trúc để tồn tại

Theo TS. Cấn Văn Lực, mặt bằng lãi suất mới đang tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp bất động sản, buộc toàn thị trường phải tái cấu trúc mô hình đầu tư, dòng vốn và sản phẩm để thích nghi.