| TS. Tô Hoài Nam: Sửa luật để chính sách thực sự chạm đến doanh nghiệp nhỏ và vừa TS. Nguyễn Văn Thân: Sửa Luật SME, xóa rào cản hộ kinh doanh, hỗ trợ trực tiếp |
Tại Hội thảo tham vấn chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, các ý kiến đã gợi mở định hướng hoàn thiện chính sách trong giai đoạn mới diễn ra ngày 23/6/2026, ThS. Nguyễn Hoa Cương, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách Chiến lược Trung ương cho biết, dù hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã được xây dựng công phu, nhưng khoảng cách giữa thiết kế và thực thi vẫn là điểm nghẽn lớn nhất.
Theo ông, quá trình xây dựng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa từng huy động nhiều nguồn lực trí tuệ, với hàng chục hội thảo tham vấn và tiếp thu sâu rộng kinh nghiệm quốc tế. Tuy nhiên, khi đi vào cuộc sống, nhiều chính sách lại chưa tạo được tác động rõ rệt, thậm chí không ít doanh nghiệp vẫn đứng ngoài các chương trình hỗ trợ.
Nhiều rào cản khiến chính sách chưa chạm tới doanh nghiệp
Một trong những vấn đề nổi bật được ThS. Nguyễn Hoa Cương chỉ ra là hệ thống định mức hỗ trợ còn lạc hậu, chưa theo kịp diễn biến thị trường. Việc quy định mức chi trả cho chuyên gia tư vấn hay các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp vẫn mang tính hành chính, thiếu linh hoạt, dẫn đến khó thu hút nguồn lực chất lượng cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ hỗ trợ mà doanh nghiệp nhận được.
![]() |
| ThS. Nguyễn Hoa Cương, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách Chiến lược Trung ương. |
Bên cạnh đó, cách thức tiếp cận chính sách cũng là một rào cản lớn. Thay vì đặt doanh nghiệp vào trung tâm, nhiều quy trình hiện nay lại mang nặng tính quản lý, khiến doanh nghiệp phải “chạy theo” chính sách. Từ khâu chuẩn bị hồ sơ đến quá trình thẩm định, phê duyệt đều phức tạp, kéo dài, làm giảm động lực tham gia của doanh nghiệp.
Đáng chú ý, thời gian triển khai chính sách bị đánh giá là quá chậm so với nhịp vận động của nền kinh tế. Có những chính sách mất nhiều năm để đi từ khâu xây dựng đến thực thi, khiến khi đến tay doanh nghiệp thì đã không còn phù hợp. Trong bối cảnh doanh nghiệp phải đối mặt với biến động liên tục, sự chậm trễ này khiến cơ hội hỗ trợ trở nên kém ý nghĩa.
Một nghịch lý khác cũng được nêu ra là gánh nặng tuân thủ. Không ít doanh nghiệp từ chối nhận hỗ trợ vì chi phí thủ tục quá lớn. Việc phải chuẩn bị hồ sơ phức tạp, thuê thêm nhân sự chuyên trách khiến tổng chi phí vượt quá lợi ích nhận được. Điều này cho thấy thiết kế chính sách chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu và khả năng của doanh nghiệp.
Ngoài ra, hiệu quả sử dụng ngân sách hỗ trợ cũng đặt ra nhiều dấu hỏi. Theo kinh nghiệm quốc tế được dẫn lại, phần lớn nguồn lực có thể bị “hao hụt” trong khâu vận hành bộ máy, trong khi phần trực tiếp đến doanh nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Đây là cảnh báo về nguy cơ lãng phí nếu không có cơ chế kiểm soát và tối ưu dòng tiền hỗ trợ.
Đổi mới tư duy để nâng cao hiệu quả chính sách
Từ thực tiễn đó, ThS. Nguyễn Hoa Cương nhấn mạnh, chuyển đổi cách tiếp cận trong xây dựng và thực thi chính sách. Thay vì tập trung vào việc ban hành quy định và giải ngân ngân sách, cần hướng tới đánh giá tác động thực chất đối với doanh nghiệp.
Một trong những đề xuất đáng chú ý là hoàn thiện cơ chế giám sát và xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung về hỗ trợ doanh nghiệp. Việc thiếu thông tin đồng bộ khiến cơ quan quản lý khó theo dõi, đánh giá hiệu quả và điều chỉnh chính sách kịp thời. Khi không biết doanh nghiệp nào đã nhận hỗ trợ, mức độ ra sao, thì việc hoạch định chính sách sẽ thiếu chính xác.
Bên cạnh đó, các tiêu chí thụ hưởng chính sách cũng cần được điều chỉnh linh hoạt hơn. Một số quy định hiện hành đặt ra điều kiện quá cao, không phù hợp với thực tế, khiến nhiều doanh nghiệp dù có nhu cầu nhưng không đủ điều kiện tiếp cận. Điều này làm giảm đáng kể phạm vi tác động của chính sách.
Để tăng tính hấp dẫn, ông Cương đề xuất áp dụng các công cụ hỗ trợ trực tiếp như voucher. Theo đó, doanh nghiệp có thể nhận hỗ trợ ngay dưới dạng phiếu dịch vụ, sử dụng cho tư vấn, đào tạo hoặc tham gia chuỗi giá trị. Cách làm này không chỉ đơn giản hóa thủ tục mà còn giúp doanh nghiệp thấy rõ lợi ích tức thì.
Đặc biệt, ông nhấn mạnh cần thay đổi cách đánh giá chính sách. Thay vì chỉ dừng ở việc báo cáo số tiền đã giải ngân, cần đo lường sự thay đổi của doanh nghiệp sau khi nhận hỗ trợ, như tăng trưởng doanh thu, mở rộng thị trường hay nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây mới là thước đo phản ánh đúng hiệu quả của chính sách.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang bước vào giai đoạn phục hồi và chuyển đổi, việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là yếu tố quyết định sức bật của khu vực kinh tế này. Những đề xuất thẳng thắn và thực tiễn tại hội thảo cho thấy nhu cầu cải cách không còn dừng ở mức điều chỉnh kỹ thuật, mà cần một sự thay đổi mang tính hệ thống.
Nếu các rào cản được tháo gỡ, nguồn lực được phân bổ hiệu quả và doanh nghiệp thực sự trở thành trung tâm của chính sách, thì các chương trình hỗ trợ sẽ không chỉ dừng lại ở con số trên báo cáo, mà trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.