| PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn: Năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia phát triển PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh: Năm 2025 cơ hội lớn cho tài chính Việt Nam |
Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Kinh tế trưởng Viện Công nghệ và Phát triển tài chính (Học viện Tài chính) cho biết, thực trạng đáng lo ngại: dù đã có nhiều chính sách thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), nhưng nguồn lực tài chính dành cho lĩnh vực này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Đáng chú ý, mục tiêu chi tối thiểu 2% ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ theo quy định nhiều năm qua vẫn chưa đạt được, với mức thực tế thường chỉ quanh 1%.
Ông cho rằng, không chỉ dừng lại ở ngân sách công, tổng chi cho R&D tính theo tỷ lệ GDP của Việt Nam cũng ở mức thấp so với khu vực và thế giới. Trong khi mức trung bình toàn cầu đạt khoảng 2,6% GDP, thì Việt Nam chỉ dao động quanh 0,4% – một con số cho thấy khoảng cách đáng kể trong đầu tư cho tri thức và công nghệ.
![]() |
| PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Kinh tế trưởng Viện Công nghệ và Phát triển tài chính (Học viện Tài chính). |
Theo PGS. TS Vỹ Sỹ Cường, nguyên nhân của tình trạng này không chỉ nằm ở nguồn lực hạn chế, mà còn xuất phát từ cách phân bổ và sử dụng vốn chưa hiệu quả. Trong khi Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo, thì khu vực doanh nghiệp – lực lượng được kỳ vọng là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo – lại chưa thực sự tham gia mạnh mẽ. Thống kê cho thấy, chi tiêu cho R&D của doanh nghiệp Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,2% GDP, thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc hay Hàn Quốc.
Một nghịch lý đáng chú ý là dù hệ thống chính sách ưu đãi đã được thiết kế khá đầy đủ, từ miễn giảm thuế đến khấu trừ chi phí R&D lên tới 200%, nhưng mức độ hấp thụ của doanh nghiệp vẫn rất hạn chế. Theo các chuyên gia, nguyên nhân chủ yếu nằm ở thủ tục phức tạp, cơ chế thiếu linh hoạt và tâm lý e ngại rủi ro trong quá trình thực thi.
Cũng theo ông Cường, doanh nghiệp, thay vì tận dụng chính sách, lại lựa chọn đứng ngoài do lo ngại các ràng buộc hành chính và khả năng bị kiểm tra, thanh tra sau này. Điều này khiến nhiều chính sách tốt không phát huy được hiệu quả như kỳ vọng, và dòng vốn vẫn chưa thực sự chảy vào các hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Trước thực trạng đó,PGS. TS Vỹ Sỹ Cường nhìn nhận, cần một hướng đi mới đang được kỳ vọng sẽ tạo ra bước chuyển trong huy động vốn cho khoa học công nghệ, đó là mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm với sự tham gia của Nhà nước. Theo quy định tại Nghị định 264/2025/NĐ-CP, Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia được thành lập với quy mô tối thiểu 2.000 tỷ đồng, trong đó Nhà nước chỉ đóng vai trò “vốn mồi” với tỷ lệ góp tối đa 30%.
"Điểm đột phá của mô hình này nằm ở triết lý “đầu tư công, quản trị tư”, tức là sử dụng nguồn lực Nhà nước để dẫn dắt và kích hoạt dòng vốn tư nhân. Đây là cách tiếp cận phổ biến tại nhiều quốc gia phát triển, nơi Nhà nước không trực tiếp can thiệp vào hoạt động đầu tư, mà tạo ra môi trường và cơ chế để thị trường vận hành hiệu quả", PGS. TS Vỹ Sỹ Cường chia sẻ.
Ông cho hay, chính sách mới cũng thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy quản lý khi chấp nhận mức rủi ro lên tới 50% vốn điều lệ của quỹ. Điều này phản ánh sự thừa nhận rằng đầu tư vào công nghệ luôn đi kèm với rủi ro, và nếu không chấp nhận thất bại, sẽ khó có thể đạt được những đột phá lớn.
Vị chuyên gia này đề xuất cần triển khai cơ chế đồng tài trợ cho các dự án R&D, trong đó Nhà nước có thể hỗ trợ từ 30% đến 70% kinh phí, phần còn lại do doanh nghiệp đối ứng. Mô hình này không chỉ giúp chia sẻ rủi ro mà còn tăng tính cam kết của doanh nghiệp trong việc triển khai dự án.
Ngoài ra, PGS. TS Vũ Sỹ Cương khẳng định, một giải pháp quan trọng khác là xây dựng thị trường đầu ra cho các sản phẩm đổi mới sáng tạo. Thay vì chỉ hỗ trợ đầu vào, Nhà nước có thể đóng vai trò “khách hàng lớn” thông qua cơ chế đặt hàng hoặc mua sắm công, tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.
Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, để các chính sách này thực sự đi vào cuộc sống, điều kiện tiên quyết vẫn là cải cách thủ tục hành chính và thay đổi tư duy quản lý. Nếu không loại bỏ được cơ chế xin – cho và tâm lý e ngại rủi ro, thì dù có bao nhiêu nguồn vốn được huy động, dòng tiền vẫn khó có thể đến được với những phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu.
"Có thể thấy, bài toán vốn cho khoa học công nghệ không chỉ là vấn đề tài chính, mà còn là câu chuyện về niềm tin và cơ chế. Khi Nhà nước đóng vai trò là “người bảo trợ rủi ro” thay vì chỉ là “người cấp phát ngân sách”, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn hơn trong đầu tư, và thị trường sẽ trở thành động lực thực sự cho đổi mới sáng tạo", ông chia sẻ thêm
PGS. TS Vũ Sỹ Cường nói: "Trong hành trình hướng tới một nền kinh tế dựa trên tri thức, việc khơi thông dòng vốn cho khoa học công nghệ không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc. Chỉ khi giải quyết được bài toán này, Việt Nam mới có thể tận dụng tối đa tiềm năng của đổi mới sáng tạo, tạo ra những bước nhảy vọt về năng suất và năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số".