Chủ nhật 06/09/2026 08:27
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Góc nhìn Chuyên gia

GS. TS Lê Hồng Hạnh: Tái cấu trúc thương mại toàn cầu và thách thức doanh nghiệp Việt Nam

Theo GS. TS Lê Hồng Hạnh, nền kinh tế toàn cầu đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu sắc, buộc doanh nghiệp Việt Nam phải thích ứng nhanh trước áp lực địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và chuyển đổi số để tồn tại, phát triển bền vững.
GS.TS Nguyễn Thành Hiếu: Bất động sản hậu COVID tạo sức ép lớn lên tăng trưởng PGS. TS Trần Đình Thiên: Kinh tế Việt Nam 2026 đứng trước cơ hội lớn và thách thức kép

Thương mại toàn cầu chuyển dịch sang cấu trúc phân mảnh và khu vực hóa

Theo GS.TS Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), nền kinh tế thế giới hiện không chỉ trải qua những biến động mang tính chu kỳ mà đang bước vào một giai đoạn “đại tu” cấu trúc sâu rộng. Trật tự thương mại dựa trên tự do hóa toàn diện – từng là nền tảng của tăng trưởng toàn cầu suốt nhiều thập kỷ – đang dần nhường chỗ cho một mô hình mới mang tính phân mảnh, chịu chi phối mạnh mẽ bởi địa chính trị và an ninh kinh tế.

GS.TS Lê Hồng Hạnh cho biết, trong quá khứ, các khuôn khổ như Hiệp định GATT hay GATS được xây dựng dựa trên triết lý giảm thiểu rào cản, thúc đẩy dòng chảy hàng hóa và dịch vụ theo lợi thế so sánh. Khái niệm “thế giới phẳng” từng phản ánh một môi trường thương mại nơi biên giới quốc gia không còn là rào cản lớn. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy xu thế “phi toàn cầu hóa” đang nổi lên rõ nét, kéo theo sự hình thành của các “khối lợi ích” mang tính khu vực.

Thay vì một thị trường toàn cầu thống nhất, các quốc gia ngày càng ưu tiên chiến lược “friend-shoring” – chuyển dịch chuỗi cung ứng sang các đối tác có độ tin cậy cao về chính trị và kinh tế. Điều này khiến thương mại quốc tế không còn đơn thuần là hoạt động mua bán, mà trở thành công cụ để củng cố liên minh chiến lược và giảm thiểu rủi ro.

Hàng loạt sáng kiến như IPEF, USMCA hay các liên minh chuỗi cung ứng mới giữa các nền kinh tế lớn đã minh chứng cho xu hướng này. Những khuôn khổ hợp tác này không chỉ hướng đến tăng trưởng kinh tế mà còn nhấn mạnh yếu tố tự chủ, an ninh và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.

GS. TS Lê Hồng Hạnh: Tái cấu trúc thương mại toàn cầu và thách thức doanh nghiệp Việt Nam
GS.TS Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).

GS.TS Lê Hồng Hạnh khẳng định, sự chuyển dịch này tạo ra một môi trường thương mại với nhiều “lớp rào cản” hơn. Nếu trước đây hàng hóa có thể lưu thông theo một lộ trình tương đối thông suốt, thì hiện nay doanh nghiệp phải đối mặt với hệ thống tiêu chuẩn, quy tắc xuất xứ và yêu cầu kỹ thuật phức tạp hơn rất nhiều. Điều này đặc biệt thách thức đối với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, khi năng lực thích ứng của doanh nghiệp còn hạn chế.

"Không chỉ dừng lại ở cấu trúc thương mại, áp lực từ chính sách kinh tế của các cường quốc cũng ngày càng gia tăng. Các biện pháp phòng vệ thương mại, thuế quan và điều tra chống bán phá giá được sử dụng như những công cụ chiến lược. Đồng thời, chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn cũng tạo ra tác động lan tỏa đến tỷ giá, lãi suất và dòng vốn toàn cầu, khiến môi trường kinh doanh trở nên khó lường hơn", GS.TS Lê Hồng Hạnh chia sẻ.

Bên cạnh đó, các biến động địa chính trị – đặc biệt tại những khu vực trọng yếu về năng lượng – có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng và đẩy chi phí sản xuất lên cao. Những rủi ro này không chỉ mang tính ngắn hạn mà còn có thể tái định hình lại toàn bộ hệ thống logistics và thương mại quốc tế.

Một điểm đáng chú ý khác là sự thay đổi “luật chơi” thông qua các tiêu chuẩn phát triển bền vững và chuyển đổi số. Các quy định như cơ chế điều chỉnh biên giới carbon hay tiêu chuẩn chống phá rừng đang trở thành điều kiện bắt buộc, buộc doanh nghiệp phải thay đổi mô hình sản xuất nếu muốn tiếp cận thị trường quốc tế.

Doanh nghiệp Việt trước “hệ phương trình” nhiều biến số và cơ hội bứt phá

Trong bối cảnh đó, GS.TS Lê Hồng Hạnh cho rằng doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt với một “hệ phương trình” phức tạp, trong đó các biến số đến từ cả bên trong lẫn bên ngoài nền kinh tế.

Ông khằng định, một trong những vấn đề cốt lõi là sự “lệch pha” giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa. Dù Việt Nam đạt được những thành tựu ấn tượng về xuất khẩu và thu hút đầu tư, nhưng phần lớn giá trị lại đến từ khu vực có vốn nước ngoài. Các doanh nghiệp nội địa vẫn chủ yếu tham gia ở những khâu có giá trị gia tăng thấp, như gia công và lắp ráp.

Nếu nhìn dưới góc độ “đường cong nụ cười”, doanh nghiệp Việt hiện vẫn đang mắc kẹt ở phần đáy – nơi tạo ra giá trị thấp nhất trong chuỗi cung ứng. Những khâu mang lại lợi nhuận cao như nghiên cứu, thiết kế hay xây dựng thương hiệu vẫn nằm ngoài tầm với của phần lớn doanh nghiệp trong nước.

GS.TS Lê Hồng Hạnh cho biết, thực trạng này thể hiện rõ ở các ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày hay điện tử. Dù kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng tỷ lệ nội địa hóa thấp khiến giá trị giữ lại trong nước không cao. Điều này khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương khi chuỗi cung ứng toàn cầu biến động.

Vị chuyên gia này cũng cho rằng, với hơn 97% doanh nghiệp thuộc nhóm nhỏ và vừa, những hạn chế về vốn, công nghệ và quản trị càng trở nên rõ nét. Khi các tiêu chuẩn mới về xanh hóa và số hóa được áp dụng, nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng “đuối sức” vì không đủ nguồn lực để thích ứng.

Các yêu cầu về ESG, truy xuất nguồn gốc hay giảm phát thải không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều kiện bắt buộc. Ví dụ, các sản phẩm xuất khẩu sang châu Âu phải chứng minh không gây mất rừng, hay ngành thép phải chịu thuế carbon nếu không đáp ứng tiêu chuẩn phát thải. Những quy định này tạo ra áp lực lớn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu.

Tuy nhiên, trong bức tranh đầy thách thức đó vẫn xuất hiện những “điểm sáng”. Một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam đã chứng minh khả năng thích ứng và vươn lên bằng chiến lược đúng đắn. Họ chủ động đầu tư vào công nghệ, đa dạng hóa thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Điển hình là việc chuyển hướng sang các lĩnh vực công nghệ cao và năng lượng sạch, nắm bắt xu thế chuyển dịch của kinh tế thế giới. Những doanh nghiệp này không chỉ tìm cách tồn tại mà còn tận dụng cơ hội để nâng cao vị thế cạnh tranh.

Theo GS.TS Lê Hồng Hạnh, điều quan trọng nhất hiện nay không còn là việc nhận diện thách thức, mà là khả năng thích ứng và hành động kịp thời. Doanh nghiệp cần thay đổi tư duy từ “gia công” sang “tạo giá trị”, từ phụ thuộc sang chủ động.

Tin bài khác
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, VIFC không thay thế ngân hàng hay chứng khoán mà mở ra kênh dẫn vốn mới, giúp Việt Nam tiếp cận dòng vốn quốc tế mà thị trường hiện tại chưa khai thác hết.
Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng cho rằng kinh tế tầm thấp đang mở ra không gian tăng trưởng mới, nhưng Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý đồng bộ, bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế với yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành sẽ mở rộng khả năng kết nối của Đồng Nai với du khách, nhà đầu tư và các dòng hàng hóa quốc tế. Nhưng để biến lợi thế giao thông thành doanh thu, địa phương cần kết nối du lịch, logistics, dịch vụ và doanh nghiệp thành một chuỗi trải nghiệm.
CEO DK Bike Bùi Thị Bích Đào: “Hòn đá tảng” về đất đai và nhân lực

CEO DK Bike Bùi Thị Bích Đào: “Hòn đá tảng” về đất đai và nhân lực

Theo Giám đốc DK Bike Bùi Thị Bích Đào, quỹ đất sản xuất và chất lượng nhân lực đang là hai điểm nghẽn lớn với doanh nghiệp tại Lạng Sơn. Bà kỳ vọng Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ đồng hành sâu sát hơn trong tháo gỡ chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp.
145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

Khoảng cách giữa 145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội được bố trí và 12.440 tỷ đồng đã giải ngân cho thấy bài toán của thị trường bất động sản không đơn giản là thiếu vốn. Dòng tiền chỉ thực sự phát huy tác dụng khi gặp đúng dự án, đúng nhu cầu và một cấu trúc tài chính đủ an toàn.
TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính cho rằng du lịch phục hồi, hạ tầng được đầu tư và chính sách dần tháo gỡ đang tạo nền tảng để bất động sản nghỉ dưỡng lấy lại niềm tin giai đoạn 2026-2027.
Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được, luật sửa đổi cần chuyển từ tư duy “có chính sách” sang bảo đảm doanh nghiệp biết được hỗ trợ gì, hỏi ai, hồ sơ ra sao và bao lâu có câu trả lời. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã trao đổi cùng ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng xung quanh vấn đề này.
TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

Theo TS. Nguyễn Văn Đính, quy định thời hạn chung cư cần được hiểu là công cụ quản lý vòng đời công trình, không phải giới hạn quyền sở hữu, nhằm đảm bảo an toàn và minh bạch thị trường.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn cảnh báo những xung đột pháp lý trong dự thảo luật mới đang làm tắc nghẽn giao dịch, đồng thời đề xuất giải pháp thực tiễn nhằm khơi thông thị trường bất động sản.
PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung nhấn mạnh Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi phải lấy số hóa, tài chính hóa làm trụ cột, đồng thời xử lý triệt để xung đột với Luật Đất đai.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh sửa Luật Kinh doanh bất động sản phải hướng tới kiến tạo thị trường minh bạch, khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả phân bổ và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương cho rằng dữ liệu số là nền tảng cốt lõi giúp thị trường bất động sản minh bạch, giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng sức hút vốn dài hạn.
Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, phía sau kết quả đó là nghịch lý khi phần lớn nguyên liệu vẫn được bán dưới dạng dăm gỗ và viên nén, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo lại thiếu gỗ nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân,việc xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM được kỳ vọng mở ra kênh huy động vốn dài hạn, giúp Việt Nam nâng cấp mô hình tăng trưởng và tiến gần hơn tới mục tiêu bứt phá kinh tế.
AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

Từ kinh nghiệm điều hành một doanh nghiệp Việt Nam, bà Phạm Thị Thu Hằng - Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc 5S Media đề xuất mô hình ba vai trò và lộ trình năm bước giúp DNNVV biến AI từ công cụ tạo hiệu suất ngắn hạn thành năng lực vận hành có thể duy trì, nhân rộng và tạo giá trị lâu dài.