| Giá lúa gạo hôm nay 9/5/2026: Giá gạo nguyên liệu bất ngờ giảm giá, phụ phẩm tăng mạnh Giá lúa gạo hôm nay 10/5/2026: Giá lúa gạo ổn định Giá lúa gạo hôm nay 11/5/2026: Giá gạo xuất khẩu neo cao |
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ghi nhận điều chỉnh giảm nhẹ, khoảng 100 – 150 đồng/kg đối với gạo nguyên liệu.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 11/5/2026: Giá lúa gạo giảm nhẹ, phụ phẩm tăng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thu mua chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán không nhiều, giá gạo biến động nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 giảm 150 đồng/kg, xuống còn 8.400 – 8.550 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu CL 555 cũng giảm 100 đồng/kg, dao động từ 9.000 – 9.100 đồng/kg. Tuy nhiên, giá gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 12/5/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 12/5/2026 |
Phân khúc nếp không đổi. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 12/5/2026 |
Giá các loại phụ phẩm tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm 2 tăng 50 đồng/kg, lên mức 7.500 – 7.600 đồng/kg. Tuy nhiên, giá cám ổn định ở mức 6.700 – 6.900 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa đang bước vào giai đoạn cuối vụ nên lượng hàng không còn dồi dào, hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện thu mua trong khoảng 6.100 – 6.300 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động quanh mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 12/5/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm của Việt Nam vẫn được chào bán ở mức 510 - 520 USD/tấn; gạo Jasmine dao động từ 513 - 517 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm đạt 399 - 403 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm được báo giá ở mức thấp hơn, với 396 - 400 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan dao động từ 350 - 354 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm đạt 345 - 349 USD/tấn – mức thấp nhất trên thị trường, trong khi gạo đồ 5% tấm có giá 337 - 341 USD/tấn.
Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), chỉ số giá gạo toàn cầu tháng 4 đạt 102,1 điểm, tăng 1,9% so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn 2,7% so với cùng kỳ năm ngoái, cho thấy thị trường chưa thoát khỏi trạng thái điều chỉnh kéo dài.
Động lực tăng chủ yếu đến từ hai nhóm sản phẩm là gạo Indica và gạo thơm, khi giá xuất khẩu tại châu Á đồng loạt đi lên. FAO cho biết chi phí thu hoạch, xay xát, đóng gói và vận chuyển nội địa tăng mạnh do giá dầu thô leo thang, kéo theo chi phí logistics toàn chuỗi. Trong đó, Việt Nam ghi nhận mức tăng đáng kể nhất nhờ nhu cầu nhập khẩu từ Philippines, giúp giá gạo nội địa được hỗ trợ trong ngắn hạn.
Việc dịch chuyển cơ cấu vụ Đông Xuân khiến nông dân tăng diện tích gạo nếp và Japonica, trong khi thu hẹp một phần diện tích gạo Indica và gạo thơm. Điều này khiến chỉ số giá Indica tăng lên 102,2 điểm, còn gạo thơm lên 104 điểm trong tháng 4.
Ở chiều ngược lại, Ấn Độ lại là điểm sáng duy nhất ghi nhận giá giảm, khi nguồn cung từ vụ mùa mới gây áp lực lên thị trường Indica nội địa, đồng thời gián đoạn logistics sang khu vực Vùng Vịnh tiếp tục ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo Basmati. Chi phí vận tải biển cao, đặc biệt tại các tuyến phải đi vòng qua ngoài eo biển Hormuz, khiến hoạt động thương mại bị thu hẹp.
Tại nhóm gạo Japonica và nếp, giá giảm lần lượt 1,8% và 3,9% do nhu cầu chậm lại với gạo Calrose cùng áp lực thu hoạch tại Việt Nam. Trong khi đó, khu vực châu Mỹ ghi nhận giá gạo Mỹ gần như đi ngang do cạnh tranh từ khối MERCOSUR và lượng tồn kho lớn, bất chấp lo ngại về khả năng cắt giảm diện tích gieo trồng.
FAO đánh giá thị trường gạo đang trong giai đoạn “ổn định bề mặt nhưng tiềm ẩn phân kỳ sâu”, khi chi phí năng lượng, logistics và thời tiết tiếp tục là những biến số có thể đảo chiều xu hướng giá trong các tháng tới.