Theo dữ liệu từ Báo cáo tháng 6/2026 của USDA, sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2026 - 2027 dự kiến đạt 537,8 triệu tấn (quy đổi gạo xay xát). Dù con số này giữ nguyên so với dự báo của tháng trước, nhưng đã sụt giảm mạnh tới 6,9 triệu tấn so với mức nền kỷ lục 544,7 triệu tấn của niên vụ 2025 - 2026. Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự suy giảm này đến từ Ấn Độ - quốc gia sản xuất lớn nhất thế giới khi sản lượng của nước này được dự báo sẽ giảm khoảng 4 triệu tấn, xuống còn 150 triệu tấn sau khi chạm đỉnh 154 triệu tấn ở vụ trước.
![]() |
| Niên vụ 2026 - 2027, tiêu thụ lúa gạo thế giới dự báo sẽ vượt sản lượng sản xuất khoảng 3,36 triệu tấn |
Ngược lại với xu hướng giảm của nguồn cung, nhu cầu tiêu thụ gạo toàn cầu lại tiến sát tới cột mốc kỷ lục mới là 541,2 triệu tấn, tăng 1,65 triệu tấn so với niên vụ 2025 - 2026. Nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng cao tại các quốc gia có quy mô dân số lớn như Bangladesh, Ấn Độ, Nigeria, Philippines và Thái Lan chính là động lực chính thúc đẩy con số này. Với việc cán cân cung - cầu lệch pha, thế giới sẽ thiếu hụt khoảng 3,36 triệu tấn gạo trong niên vụ tới, buộc các quốc gia phải tiêu tốn vào nguồn hàng dự trữ chiến lược. Hệ quả trực tiếp là tồn kho cuối kỳ toàn cầu giảm xuống còn 192,8 triệu tấn, thấp hơn 3,4 triệu tấn so với vụ trước. Do Trung Quốc và Ấn Độ nắm giữ tới 82% lượng tồn kho này (lần lượt chiếm 56% và 26%), lượng dự trữ khả dụng cho thương mại tự do tại các khu vực khác càng trở nên eo hẹp.
Mặc dù tổng sản lượng sụt giảm, thương mại gạo toàn cầu trong năm dương lịch 2027 vẫn được kỳ vọng đạt mức cao kỷ lục là 63,1 triệu tấn, tăng 1,8 triệu tấn so với năm 2026. Ấn Độ tiếp tục khẳng định vị thế điều tiết thị trường khi chiếm tới 40% thị phần xuất khẩu toàn cầu (dự kiến đạt 24,5 triệu tấn). Đáng chú ý, Việt Nam được dự báo giữ vững vị trí xuất khẩu lớn thứ hai thế giới với sản lượng đạt 8 triệu tấn (tăng nhẹ so với mức 7,9 triệu tấn của năm 2026), xếp trên Thái Lan với 7,5 triệu tấn và Pakistan với 5 triệu tấn.
Ở mặt trận nhập khẩu, Philippines tiếp tục duy trì vị thế là bên mua lớn nhất hành tinh khi thiết lập kỷ lục mới với 5,6 triệu tấn trong năm 2027. Đáng chú ý, USDA cũng dự báo nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng thêm 0,3 triệu tấn lên mức 4 triệu tấn, chủ yếu phục vụ nhu cầu chế biến sâu và bù đắp phân khúc nội địa khi các doanh nghiệp trong nước tập trung nguồn lực xuất khẩu các dòng gạo thơm, gạo chất lượng cao có biên lợi nhuận tốt hơn.
Sự thắt chặt của nguồn cung lập tức phản ánh rõ nét lên xu hướng giá chào xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Ngoại trừ Ấn Độ giữ nguyên giá bán ở mức thấp 341 USD/tấn nhờ lượng dự trữ dồi dào, giá gạo của hầu hết các quốc gia xuất khẩu trọng điểm đều đồng loạt leo dốc. Tại Đông Nam Á, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan tăng mạnh tới 62 USD, chạm mức 470 USD/tấn nhờ lực mua lớn từ Philippines, Iraq cùng sự tăng giá của đồng Baht. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm 16 USD, đạt mức 411 USD/tấn do nguồn cung nội địa thu hẹp trước các đợt thu hoạch mới. Tại các thị trường khác, giá gạo Mỹ tăng lên 534 USD/tấn, Uruguay tăng lên 517 USD/tấn và Pakistan chạm mức 380 USD/tấn.
Bức tranh toàn cảnh từ USDA cho thấy, thị trường lúa gạo giai đoạn 2026 - 2027 sẽ nghiêng về phía người bán. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, việc giá gạo thế giới neo ở mức cao là tín hiệu tích cực để gia tăng giá trị kim ngạch. Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn cung thu hẹp và giá thu mua nguyên liệu trong nước có xu hướng tăng, các doanh nghiệp xuất khẩu cần cẩn trọng trong việc ký kết các hợp đồng kỳ hạn xa mà chưa chốt được vùng nguyên liệu. Việc xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các hợp tác xã, bao tiêu sản phẩm và kiểm soát tốt chi phí logistics sẽ là khóa vàng giúp ngành gạo Việt Nam tận dụng tối đa cơ hội giá cao, đảm bảo tăng trưởng bền vững trước những biến động khó lường của thị trường lương thực toàn cầu.