![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 16/6/2026: Giá lúa gạo đi ngang, xuất khẩu gạo Ấn Độ gặp khó |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại bình ổn so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho giao dịch mua bán khá, giá không biến động. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 ổn định ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo OM 5451 ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo CL 555 hiện ở mức 9.100 - 9.200 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 16/6/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thường dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 16/6/2026 |
Phân khúc nếp ổn định so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg;…
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm chững lại so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá dao động trong khoảng 7.850 - 8.050 đồng/kg; giá tấm thơm hiện dao động quanh mức 7.750 - 7.850 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 16/6/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Tại Long An, giá lúa Thu Đông giảm tiếp, đa số ngưng mua mới, chờ tình hình do giá gạo giảm tiếp. Tại An Giang, lúa cuối đồng giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, lúa nông dân chào bán ít, giao dịch chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp nối đà đi ngang so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa OM 5451 (tươi) hiện ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động ở mốc 6.400 - 6.500; giá lúa OM 34 (tươi) ổn định trong khoảng 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 16/6/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam vẫn duy trì ở mức 485 - 490 USD/tấn, gạo Jasmine từ 508 - 512 USD/tấn, trong khi gạo trắng 5% tấm trong khoảng 411 - 415 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được báo giá từ 462 - 466 USD/tấn, cao nhất trong nhóm các nước xuất khẩu chủ chốt. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan dao động trong khoảng 389 - 393 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm hiện ở mức 343 - 347 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm được giao dịch trong khoảng 333 - 337 USD/tấn.
Cuộc khủng hoảng kéo dài tại Tây Á đang tạo ra sức ép ngày càng lớn đối với ngành gạo Basmati của Ấn Độ, một lĩnh vực phụ thuộc đáng kể vào nhu cầu nhập khẩu từ các quốc gia vùng Vịnh. Theo số liệu của Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ được The Indian Express dẫn lại, kim ngạch xuất khẩu gạo Basmati đã giảm 27,4% trong tháng 3 và 20,9% trong tháng 4. Tổng giá trị xuất khẩu trong hai tháng chỉ đạt 838,34 triệu USD, giảm 24% so với mức 1,105 tỷ USD cùng kỳ năm trước.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự sụt giảm mạnh tại các thị trường trọng điểm như Iran, Iraq, Qatar và Bahrain, nơi lượng nhập khẩu giảm từ 50% đến 90%. Đây là diễn biến đáng chú ý bởi 5 thị trường lớn nhất của gạo Basmati Ấn Độ đều nằm ở Tây Á, chiếm khoảng một nửa tổng lượng xuất khẩu. Với sản lượng xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn mỗi năm, trong đó gần 4 triệu tấn tiêu thụ tại vùng Vịnh, bất kỳ biến động địa chính trị nào trong khu vực cũng tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng và doanh thu của doanh nghiệp xuất khẩu.
Trước áp lực này, các doanh nghiệp Ấn Độ đang đẩy mạnh tìm kiếm thị trường thay thế. Jordan nổi lên như một điểm trung chuyển và tiêu thụ mới khi trở thành thị trường lớn thứ hai trong tháng 4, chiếm khoảng 15% lượng xuất khẩu. Đồng thời, xuất khẩu sang Anh, Italy, Hà Lan và Oman tăng mạnh, phản ánh nỗ lực đa dạng hóa thị trường nhằm giảm phụ thuộc vào Tây Á.
Tuy nhiên, thách thức mới lại xuất hiện tại Trung Quốc, thị trường được kỳ vọng bù đắp phần sụt giảm từ vùng Vịnh. Dù xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 155% trong tháng 4 và hơn 200% trong tháng 3, một số lô hàng đã bị từ chối do phát hiện dấu vết vật liệu có nguồn gốc GMO. Điều này buộc các doanh nghiệp phải tăng chi phí kiểm định và tuân thủ các quy định nghiêm ngặt hơn.
Áp lực xuất khẩu giảm diễn ra đúng thời điểm nông dân tại Punjab và Haryana - hai bang sản xuất gần 70% sản lượng gạo của Ấn Độ - đang đối mặt với tình trạng thiếu phân bón. Nếu bất ổn tại Tây Á kéo dài và các rào cản thương mại gia tăng, ngành gạo Basmati của Ấn Độ có thể phải đối mặt với giai đoạn điều chỉnh sâu hơn, không chỉ ở khâu xuất khẩu mà còn trong toàn bộ chuỗi sản xuất trong nước.