Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại bình ổn so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 11/6/2026: Giá gạo nguyên liệu và phụ phẩm trái chiều |
Kênh chợ Sa Đéc, các kho giao dịch mua bán khá, giá không biến động. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu giảm nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 giảm 100 đồng/kg, xuống còn 9.100 - 9.200 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo nguyên liệu IR 504 vẫn duy trì ổn định ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo OM 5451 ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 11/6/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thường dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 11/6/2026 |
Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg;…
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 11/6/2026 |
Giá các loại phụ phẩm giảm nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám giảm 50 đồng/kg, dao động trong khoảng 7.850 - 8.050 đồng/kg. Trong khi đó, giá tấm thơm hiện dao động quanh mức 7.750 - 7.850 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Tại Long An, giá lúa Thu Đông giảm tiếp, đa số ngưng mua mới, chờ tình hình do giá gạo giảm tiếp. Tại An Giang, lúa cuối đồng giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, lúa nông dân chào bán ít, giao dịch chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay duy trì đi ngang so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa OM 5451 (tươi) hiện ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động ở mốc 6.400 - 6.500; giá lúa OM 34 (tươi) ổn định trong khoảng 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 11/6/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam hiện được chào bán ở mức 490 - 495 USD/tấn, giảm 2 USD/tấn so với ngày trước đó. Tương tự, giá gạo trắng 5% tấm giảm thêm 1 USD/tấn, xuống còn 411 - 415 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo Jasmine giữ ổn định ở mức 509 - 513 USD/tấn.
Tại các quốc gia xuất khẩu chủ chốt khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan tăng nhẹ 1 USD/tấn, lên mức 460 - 464 USD/tấn. Giá gạo cùng loại của Pakistan duy trì ổn định trong khoảng 386 - 390 USD/tấn. Đối với Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm tăng 2 USD/tấn, đạt 342 - 346 USD/tấn. Cùng xu hướng, giá gạo đồ 5% tấm tăng 3 USD/tấn, lên mức 333 - 337 USD/tấn.
Thị trường gạo xuất khẩu Pakistan đang ghi nhận đà tăng giá rõ rệt trong bối cảnh nhu cầu quốc tế cải thiện và nguồn cung nội địa thu hẹp sau kỳ nghỉ lễ Eid. Theo các nguồn tin từ Platts, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan đã tăng lên mức 385 USD/tấn FOB ngày 5/6, tăng 31 USD/tấn so với tuần trước và tăng 40 USD/tấn so với một tháng trước.
Động lực chính của đợt tăng giá đến từ nhu cầu mua mạnh của Philippines, cùng với hoạt động thu mua trong nước gia tăng khi thị trường bước vào giai đoạn cuối niên vụ. Các thương nhân cho biết nhiều hợp đồng xuất khẩu mới sang Philippines đã được ký kết ngay sau kỳ nghỉ Eid, trong khi nguồn cung dành cho xuất khẩu ngày càng hạn chế khiến giá chào bán tiếp tục đi lên.
Theo ước tính tại Karachi, khoảng 70.000 - 75.000 tấn gạo đã được đặt mua để vận chuyển sang Philippines trong tháng 6, với một số lô hàng đang được bốc xếp tại cảng. Đồng thời, Philippines cũng bắt đầu thăm dò các lô hàng giao trong tháng 7, cho thấy nhu cầu vẫn duy trì, dù chưa ghi nhận thêm giao dịch chính thức.
Đáng chú ý, sự dịch chuyển trong cơ cấu nhập khẩu của Philippines diễn ra trong bối cảnh giá gạo Việt Nam tăng cao, làm giảm sức cạnh tranh so với các nguồn cung thay thế như Pakistan và Ấn Độ. Tuy nhiên, giới nhập khẩu tại Manila cho rằng Việt Nam vẫn giữ vai trò nhà cung cấp chủ lực nhờ lợi thế về chất lượng ổn định, khẩu vị tiêu dùng và logistics.
Một số nhà xuất khẩu Pakistan thừa nhận đây là “cơ hội quan trọng”, song cũng cho biết thị trường Philippines chưa hình thành mức độ trung thành cao với gạo Pakistan. Người mua vẫn ưu tiên các giống gạo quen thuộc, khiến khả năng thay đổi cấu trúc nhập khẩu mang tính dài hạn còn hạn chế. Trong khi đó, gạo Ấn Độ hiện được chào bán ở mức 341 USD/tấn FOB, thấp hơn đáng kể so với Pakistan, tiếp tục tạo áp lực cạnh tranh về giá.
Trong bối cảnh niên vụ hiện tại sắp kết thúc và vụ thu hoạch mới chưa bắt đầu trước cuối tháng 8 hoặc tháng 9, các nhà xuất khẩu dự báo giá gạo Pakistan sẽ duy trì ở mức cao trong ngắn hạn nếu nhu cầu từ Philippines tiếp tục ổn định. Theo S&P Global CERA, Pakistan có thể xuất khẩu khoảng 4,9 triệu tấn gạo trong niên vụ 2026 - 2027, tăng 11% so với năm trước, phản ánh triển vọng tích cực của ngành trong trung hạn.