![]() |
| Giá thép hôm nay 27/7/2026: Thị trường giảm nhẹ do Đường Sơn siết sản lượng |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h30 ngày 27/7/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 14.440 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.120 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.120 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.640 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.050 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h30 (giờ Việt Nam) ngày 27/7, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.074 CNY/tấn. |
Thị trường thép và nguyên liệu mở cửa sáng 27/7 trong sắc đỏ nhẹ, chịu áp lực trực tiếp từ chính sách siết nguồn cung tạm thời tại thủ phủ Đường Sơn (Trung Quốc).
Tại Sàn Giao dịch Hàng hóa Thượng Hải (SHFE), hợp đồng thép thanh giao tháng 8/2026 lùi 0,20% (giảm 6 Nhân dân tệ), xuống mức 3.042 Nhân dân tệ/tấn. Cùng chiều hạ nhiệt, giá quặng sắt giao tháng 8/2026 trên Sàn Đại Liên (DCE) giảm 0,47% (mất 3,5 Nhân dân tệ), về mốc 736 Nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Singapore (SGX), quặng sắt cùng kỳ hạn chốt phiên ở mức 97,70 USD/tấn, giảm 0,36% (tương đương 0,35 USD).
Nhịp điều chỉnh này xuất phát từ lệnh giới hạn vận hành tại Đường Sơn kéo dài từ 25/7 đến giữa ngày 29/7. Theo Steel Orbis và GMK Center, các lò cao tại đây phải cắt giảm 20% công suất, trong khi hệ thống thiêu kết và lò vôi giảm tới 40%. Biên lợi nhuận mỏng buộc nhiều nhà máy tận dụng đợt này để bảo dưỡng thiết bị hoặc chủ động thu hẹp quy mô sản xuất.
Báo cáo từ Hiệp hội Thép Thế giới (WorldSteel) cho thấy tổng sản lượng gang toàn cầu nửa đầu năm 2026 đạt 689,02 triệu tấn, giảm 1,8% so với cùng kỳ. Dù giảm 2,8% xuống 426,64 triệu tấn, Trung Quốc vẫn dẫn đầu thị trường; tiếp theo là Ấn Độ đạt 79,35 triệu tấn (tăng 4%) và Nhật Bản đạt 29,16 triệu tấn (giảm 0,4%).
Tại Trung Quốc, sản lượng thép thô và thép cán 6 tháng đầu năm lần lượt giảm 3% (xuống 499,95 triệu tấn) và 0,9% (xuống 718,78 triệu tấn). Trên quy mô toàn cầu, dù tháng 6/2026 ghi nhận mức tăng nhẹ 1,7% (đạt 155,7 triệu tấn), tổng lượng thép thô 6 tháng vẫn giảm 0,7% so với cùng kỳ năm 2025, dừng ở mốc 931,5 triệu tấn.
Nhu cầu tiêu thụ thép tại thị trường nội địa Trung Quốc dự kiến vẫn tiếp diễn trạng thái trầm lắng trong ngắn hạn. Áp lực từ lượng hàng tồn kho cùng tốc độ phục hồi chậm của sức mua đang cản trở đà tăng giá của các nhà sản xuất.
Giới phân tích cho rằng giá thép thành phẩm khó xuất hiện bước ngoặt đảo chiều mạnh mẽ nếu giá các nguyên liệu đầu vào cốt lõi như quặng sắt và than cốc chưa giảm sâu hơn để giúp các doanh nghiệp luyện kim tối ưu hóa chi phí.