![]() |
| Giá thép hôm nay 14/9/2026: Thị trường trong nước ổn định, thép quốc tế phân hoá |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h00 ngày 14/9/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 13.840 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.650 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.950 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.210 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.040 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.550 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.940 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.550 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 13.840 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.250 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.210 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 15.050 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.140 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.720 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.950 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.840 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.840 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h00 (giờ Việt Nam) ngày 13/9, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.071 CNY/tấn. |
Thị trường thép và nguyên liệu thô thế giới vừa trải qua một tuần giao dịch rung lắc mạnh với sự đối lập rõ rệt giữa các khu vực. Giá thép thanh kỳ hạn trên sàn giao dịch Thượng Hải hiện duy trì quanh mốc 3.071 CNY/tấn.
Đầu tuần, sóng giá quặng sắt được đẩy lên cao nhờ nhu cầu tích trữ hàng trước kỳ nghỉ lễ của doanh nghiệp Trung Quốc, cộng hưởng cùng áp lực chi phí vận tải biển gia tăng. Thời điểm đó, hợp đồng quặng sắt trên sàn Đại Liên từng vọt qua ngưỡng 740 CNY/tấn, còn sàn Singapore cũng vượt mốc 100 USD/tấn.
Nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu của thị trường Trung Quốc duy trì đà tăng trưởng ổn định. Số liệu thống kê cho thấy lượng quặng sắt cập cảng quốc gia này trong tháng 8 đạt 108,54 triệu tấn, tăng 0,4% so với tháng 7 và tăng 3,1% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này trong 8 tháng đầu năm đạt 845,27 triệu tấn, nâng mức tăng trưởng lên 5,5% so với cùng kỳ năm trước.
Áp lực điều chỉnh xuất hiện ngay giữa tuần khi đà tăng nhanh chóng hạ nhiệt. Trong phiên ngày 9/9, giá quặng sắt giao tháng 10 trên sàn Singapore quay đầu giảm 1,55% xuống 99,45 USD/tấn, còn sàn Đại Liên mất 0,27% giá trị về mức 738 CNY/tấn. Cùng chiều hạ nhiệt, giá thép thanh tại Thượng Hải sụt 0,19%, chốt ở mức 3.095 CNY/tấn.
Khép lại tuần giao dịch, trạng thái giằng co tiếp tục thống trị các sàn hàng hóa. Sàn Thượng Hải ghi nhận thép thanh giao tháng 10 nhích nhẹ lên 3.109 CNY/tấn. Sàn Singapore chứng kiến quặng sắt tái lập mốc 100,65 USD/tấn. Ngược lại, sàn Đại Liên chịu lực bán nén mạnh khiến quặng sắt bốc hơi 2,86%, lùi sâu về 731 CNY/tấn.
Sự trồi sụt thất thường này phản ánh gánh nặng chi phí nguyên liệu đầu vào và than coke đang đè nặng lên các nhà luyện kim Trung Quốc. Biên lợi nhuận thu hẹp khiến tỷ lệ doanh nghiệp có lãi sụt giảm đáng kể, buộc nhiều nhà máy phải chủ động tiết giảm công suất và cắt giảm sản lượng.
Đối lập với thế phòng thủ tại châu Á, thị trường phương Tây đón nhận tin hiệu tăng giá đầy tích cực. Tại Mỹ, tập đoàn Nucor vừa quyết định cộng thêm 5 USD/tấn ngắn cho thép cuộn cán nóng (HRC), đẩy mức giá trung bình toàn thị trường lên 1.205 USD/tấn ngắn (tương đương 1.190 USD/tấn metric). Tại châu Âu, ArcelorMittal cũng thông báo điều chỉnh tăng 20 EUR/tấn cho các đơn hàng HRC giao tháng 11/2026.
Xu hướng giá thép toàn cầu thời gian tới sẽ tiếp tục chịu tác động tổng hòa từ sức mua thực tế, biến động giá nguyên liệu và khả năng tự cân đối nguồn cung của các tập đoàn sản xuất lớn.
Cục diện phân hóa nhiều khả năng vẫn kéo dài khi đường sức giá tại Mỹ và châu Âu duy trì khoảng cách chênh lệch khá xa so với mặt bằng giá tại khu vực châu Á.