![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 14/9/2026: Giá lúa gạo trong nước ổn định, nguồn cung Thái Lan có thể giảm 2% |
Giá gạo trong nước
Tại khu vựcĐồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 hiện ở mức 8.700 – 8.750 đồng/kg; giá gạo IR 504 đi ngang ở mức 8. 600 – 8.700 đồng/kg; giá gạo OM 5451 ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 dao động quanh mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 14/9/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; giá gạo thường ở mức 12.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine ở mức 13.000 - 20.500 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không biến động so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 14/9/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm 3,4 hiện ở mức 8.400 – 8.500 đồng/kg; giá cám dao động trong khoảng 7.450 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 14/9/2026 |
Giá lúa trong nước
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Theo đó, hiện giá lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.200 - 6.400 đồng/kg; giá lúa tươi OM 5451 hiện ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 18 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 thu mua ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg; giá lúa tươi OM 34 ổn định ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 14/9/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm của Việt Nam tiếp tục dao động trong khoảng 445 - 450 USD/tấn; gạo 100% tấm từ 367 - 371 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 534-538 USD/tấn.
Tại các quốc gia xuất khẩu hàng đầu khác, gạo 5% tấm của Thái Lan được chào bán cao nhất, dao động 478 - 482 USD/tấn, gạo 100% tấm trong khoảng 374 - 378 USD/tấn. Trong khi đó, tại Ấn Độ, gạo 5% tấm giảm 1 USD/tấn dao động ở mức 370 - 374 USD/tấn. Ngược lại, gạo 100% tấm tăng 2 USD/tấn dao động 306-310 USD/tấn. Tại Pakistan, giá gạo 5% tấm tăng 2 USD/tấn, lên mức 408 – 412 USD/tấn; gạo 100% tấm giữ ở mức 310 – 314 USD/tấn.
Thái Lan có thể bước vào một niên vụ khó khăn khi nguồn nước hạn chế và ảnh hưởng của El Niño làm thu hẹp diện tích lúa trái vụ. Theo FAS Bangkok, sản lượng gạo niên vụ 2026-2027 dự kiến đạt 20,3 triệu tấn, giảm khoảng 400.000 tấn, tương đương 2%, so với niên vụ trước.
Phần giảm chủ yếu nằm ở vụ trái mùa. Diện tích thu hoạch được dự báo giảm từ 2,07 triệu ha xuống 1,93 triệu ha, trong khi diện tích vụ chính duy trì quanh 8,9 triệu ha. Nguyên nhân là lượng nước dành cho sản xuất đang ở mức thấp, trong bối cảnh thời tiết được dự báo khô hơn.
Đến ngày 15/8, bốn hồ chứa lớn trên hệ thống sông Chao Phraya chỉ đạt 55% công suất, nhưng lượng nước có thể sử dụng thực tế mới khoảng 39%, thấp hơn 9% so với cùng kỳ năm trước. FAS đồng thời dẫn dự báo lượng mưa dưới mức bình thường khi El Niño hình thành.
Ở chiều thương mại, xuất khẩu gạo Thái Lan niên vụ 2026-2027 được giữ ở 7,3 triệu tấn, mức thấp nhất kể từ năm 2021. Đồng baht mạnh cùng sự cạnh tranh từ Ấn Độ và Việt Nam tiếp tục gây áp lực lên xuất khẩu. Trong khi đó, tồn kho cuối kỳ được dự báo tăng lên 4,6 triệu tấn, cao nhất 5 năm.