![]() |
| Giá thép hôm nay 16/9/2026: Áp lực từ nguồn cung và biên lợi nhuận, quặng sắt giảm 5 phiên liên tiếp |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h00 ngày 16/9/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 13.840 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.650 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.950 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.210 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.040 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.550 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.940 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.550 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 13.840 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.250 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.210 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 15.050 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.140 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.720 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.950 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.840 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.840 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h00 (giờ Việt Nam) ngày 16/9, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.125 CNY/tấn. |
Thị trường nguyên liệu làm thép vừa ghi nhận chuỗi giảm điểm kéo dài của quặng sắt. Kết thúc ngày 15/9, mặt hàng này đánh dấu chuỗi 5 phiên đi lùi liên tiếp trên khắp các sàn giao dịch lớn.
Ghi nhận tại sàn DCE Trung Quốc, hợp đồng quặng sắt giao tháng 1/2026 giảm 0,56%, rơi xuống mức 707,5 CNY/tấn. Cùng chiều hạ nhiệt, giá quặng sắt giao tháng 10/2026 trên sàn SGX Singapore chốt tại 95,3 USD/tấn sau khi bốc hơi 0,3%. Nhóm mặt hàng phụ trợ trên DCE ghi nhận than cốc sụt nhẹ 0,27% còn than mỡ giữ nguyên giá giao dịch. Sàn SHFE có sự phân hóa khi thép thanh tăng 0,42%, thép không gỉ nhích 0,22%, trong khi thép cuộn cán nóng và thép dây đi ngang.
Nguyên nhân cốt lõi khiến giá quặng rơi tự do nằm ở sự lệch pha giữa cung và cầu. Theo số liệu từ Mysteel, lượng quặng sắt cung ứng toàn cầu tuần kết thúc ngày 13/9 đã vọt lên 35,17 triệu tấn, tăng thêm 1,59 triệu tấn so với tuần trước đó.
Trái ngược với đà tăng của nguồn cung, sức tiêu thụ tại thị trường Trung Quốc lại rơi vào cảnh đìu hiu. Việc giá than cốc đứng ở mức cao đã vắt kiệt lợi nhuận của ngành luyện kim. Nhiều doanh nghiệp buộc phải tiết giảm sản lượng, chủ động dừng lò để bảo dưỡng nhằm cắt lỗ, kéo theo khối lượng thu mua nguyên liệu thô sụt giảm mạnh.
Sức ép tiêu thụ còn thể hiện qua việc sản lượng thép thô trung bình ngày trong tháng 8 tại Trung Quốc chạm đáy 8 tháng, giảm 3% so với tháng 7. Thị trường đầu ra bất động sản chưa thấy cửa sáng, giá nhà mới tiếp tục đà lao dốc càng khiến bức tranh tiêu thụ thép thêm u tối.
Trong ngắn hạn, thị trường có thể xuất hiện nhịp hồi kỹ thuật nhẹ nhờ làn sóng các nhà máy đẩy mạnh thu mua tích trữ nguyên liệu trước kỳ nghỉ lễ lớn cuối tháng tại Trung Quốc.
Mặc dù vậy, dư địa bứt phá của quặng sắt sẽ bị chặn đứng bởi biên lợi nhuận mỏng của các doanh nghiệp. Tâm lý phòng thủ sẽ bao trùm, khiến giới sản xuất hạn chế tối đa việc ôm hàng số lượng lớn. Nhìn chung, xu hướng điều chỉnh giảm đối với giá quặng sắt lẫn giá thép vẫn sẽ chiếm thế chủ đạo trong thời gian tới.