![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 23/6/2026: Gạo xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thu mua chậm,giá gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán không nhiều, giá gạo biến động nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo CL 555 hiện ở mức 9.100 - 9.200 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; IR 504 hiện ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 23/6/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đôit so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 23/6/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm duy trì ở mức 7.950 - 8.050 đồng/kg; giá cám ổn định ở mức 7.850 - 8.050 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 23/6/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay duy trì trang thái ổn định so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động ở mốc 6.400 - 6.500; giá lúa OM 34 (tươi) ổn định trong khoảng 5.100 - 5.200 đồng/kg OM 5451 (tươi) hiện ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 23/6/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine tiếp tục được chào bán ở mức 505 - 509 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm đạt 410 - 414 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm trong khoảng 485 - 490 USD/tấn.
Tại các quốc gia khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan dao động từ 473 - 477 USD/tấn, cao nhất trong số các nước xuất khẩu gạo hàng đầu. Sản phẩm cùng loại của Pakistan tăng dao động trong khoảng 390 - 394 USD/tấn. Ở Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm cũng duy trì ổn định ở mức 347 - 351 USD/tấn; trong khi giá gạo đồ 5% tấm đạt 336 - 340 USD/tấn.
Theo số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 5 tháng đầu năm 2026, cả nước xuất khẩu 4,3 triệu tấn gạo, thu về hơn 2 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, lượng xuất khẩu tăng 1,9%, nhưng kim ngạch lại giảm 7,4%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt 470 USD/tấn, thấp hơn 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Điểm đáng chú ý là sự thay đổi trong động lực tăng trưởng của thị trường, trong khi Philippines vẫn giữ vị trí khách hàng lớn nhất với hơn 2 triệu tấn, chiếm gần 48% tổng lượng gạo xuất khẩu, tốc độ nhập khẩu từ thị trường này đang chậm lại. Riêng trong tháng 5, lượng gạo xuất sang Philippines giảm 14,5% so với cùng kỳ năm trước.
Ngược lại, tại Trung Quốc, trong 5 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo sang thị trường này đạt gần 785.000 tấn, tăng hơn 90% về lượng và 87% về trị giá. Chỉ riêng tháng 5, lượng gạo xuất khẩu sang Trung Quốc tăng tới 4,37 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Cho thấy nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc đang phục hồi mạnh, góp phần giảm bớt sự phụ thuộc của gạo Việt Nam vào một số thị trường truyền thống.
Bên cạnh Trung Quốc, nhiều thị trường như Malaysia, Mozambique hay Iraq cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Iraq tăng gần 200 lần, cho thấy dư địa mở rộng thị trường vẫn còn rất lớn.
Trong bối cảnh giá gạo thế giới chưa phục hồi hoàn toàn, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu đang trở thành yếu tố quan trọng giúp ngành gạo duy trì đà tăng trưởng. Cùng với đó, những lo ngại về tác động của El Nino đối với nguồn cung lương thực toàn cầu có thể hỗ trợ giá gạo cải thiện trong thời gian tới, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.