Từ ngày 1/1/2027, truy xuất nguồn gốc hàng hóa sẽ bước sâu hơn vào môi trường số. Với nhóm sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc định danh, xác thực dữ liệu và truy xuất nguồn gốc được thực hiện bắt buộc; còn danh mục, lộ trình và cách làm cụ thể sẽ do bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định.
Mỗi lô hàng sẽ có một “dấu chân” số
Nghị định số 372/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 29/9/2026 quy định về hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.
![]() |
| Khoản 1 Điều 5 Thông tư 34 2026 TT BCT quy định sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương bắt buộc phải thực hiện việc truy xuất nguồn gốc theo Điều 22 Nghị định 37/2026/NĐ-CP - Ảnh minh họa. |
Theo quy định mới, việc truy xuất nguồn gốc được thực hiện trên môi trường số thông qua mã định danh sản phẩm, hàng hóa (UID) trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
UID được tạo lập tự động trên nền tảng quốc gia, có khả năng định danh và truy xuất đến từng sản phẩm hoặc lô, mẻ. Mỗi mã chỉ gắn với một sản phẩm, hàng hóa hoặc một lô, mẻ cụ thể và liên kết với một bản ghi dữ liệu chủ duy nhất.
Điều đáng chú ý là UID không thay thế các mã GTIN, GLN hay mã truy vết đã được cấp và sử dụng hợp pháp. Nói cách khác, doanh nghiệp không phải bỏ toàn bộ hệ thống mã đang sử dụng để làm lại từ đầu. Mã mới được thiết kế để tăng khả năng kết nối, xác thực và đối chiếu trên nền tảng chung.
Dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hóa cũng được chuẩn hóa theo Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam và Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam. Đây là phần nền để các hệ thống khác nhau có thể “nói chuyện” với nhau.
Hàng đi qua đâu, dữ liệu đi theo đó
Một thay đổi quan trọng nằm ở cách ghi nhận hành trình hàng hóa. Nghị định quy định việc truy xuất phải được ghi nhận thông qua chứng chỉ số gắn với mã UID, nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, khả năng xác minh và truy vết độc lập. Các sự kiện trọng yếu có thể phát sinh trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu thông và tiêu dùng, trong đó có việc xuất hóa đơn và thời điểm cơ quan hải quan quyết định thông quan, thuộc phạm vi ghi nhận theo quy định.
Trách nhiệm vì thế được kéo về từng công đoạn. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đối với một sự kiện trọng yếu trong chuỗi cung ứng phải bảo đảm khởi tạo chứng chỉ số tương ứng, trừ trường hợp dữ liệu xác nhận kết thúc công đoạn đã được đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.
Nếu doanh nghiệp thuê đơn vị cung cấp dịch vụ khởi tạo chứng chỉ số, các bên phải thỏa thuận rõ ai thực hiện, phạm vi công việc và trách nhiệm bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ cũng như trách nhiệm pháp lý của từng bên.
Như vậy, câu chuyện truy xuất không còn dừng ở việc “hàng này từ đâu đến?”. Dữ liệu được thiết kế để trả lời thêm: hàng đã qua công đoạn nào, ai chịu trách nhiệm ở công đoạn đó và thông tin được xác nhận bằng cách nào.
Không phải hàng nào cũng phải làm giống nhau
Nghị định chia cách tiếp cận theo mức độ rủi ro. Với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc định danh, xác thực dữ liệu chủ và truy xuất nguồn gốc là bắt buộc. Tuy nhiên, danh mục hàng hóa, lộ trình áp dụng, phương thức thực hiện theo lô, mẻ hoặc từng đơn vị sản phẩm và các sự kiện trọng yếu phải ghi nhận sẽ do bộ quản lý ngành, lĩnh vực xác định theo thẩm quyền, phù hợp với đặc thù ngành hàng và năng lực doanh nghiệp.
![]() |
| Bên cạnh việc ghi nhận hành trình sản phẩm, Nghị định số 372/2026/NĐ-CP đặt ra cơ chế số hóa và kết nối các giấy tờ gắn với hàng hóa. Đây là nội dung đáng chú ý đối với doanh nghiệp có nhiều chứng nhận chất lượng, xuất xứ và hồ sơ đánh giá sự phù hợp. |
Với hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và thấp, việc định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc được khuyến khích. Hàng xuất khẩu cũng theo nguyên tắc tự nguyện, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Điểm này khá quan trọng với doanh nghiệp. Không nên hiểu từ 1/1/2027 mọi sản phẩm trên thị trường đều phải truy xuất theo cùng một cách. Nghĩa vụ cụ thể sẽ phụ thuộc danh mục, lộ trình và yêu cầu chuyên ngành được cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Giấy tờ cũng phải “lên mạng”
Với hàng hóa rủi ro cao, phạm vi số hóa không chỉ nằm ở hành trình sản phẩm. Các chứng nhận chất lượng, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và giấy tờ khác gắn với sản phẩm sẽ được số hóa, xác thực, kết nối và đồng bộ với Nền tảng quốc gia theo lộ trình, tiêu chuẩn dữ liệu và yêu cầu quản lý của cơ quan có thẩm quyền.
Khi đáp ứng điều kiện kỹ thuật để kết nối, các cơ quan, tổ chức cấp chứng nhận có thể khởi tạo chứng chỉ số tương ứng. Những chứng chỉ số đã được khởi tạo trên Nền tảng quốc gia có giá trị sử dụng như bản chính theo quy định của Nghị định.
Đây là phần có thể tác động trực tiếp đến cách doanh nghiệp lưu giữ và luân chuyển hồ sơ. Thay vì mỗi lần giao dịch, kiểm tra hay đối chiếu lại phải đưa ra từng tập giấy tờ, dữ liệu đã được xác thực có thể được khai thác lại trên hệ thống.
Bớt một lần kê khai, thêm một lần đối chiếu
Một yêu cầu đáng chú ý của Nghị định là không làm phát sinh thủ tục, nghĩa vụ kê khai nhiều lần.
Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực khi quy định những sự kiện trọng yếu phải ghi nhận đối với hàng hóa rủi ro cao phải bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu đã có trong hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, đồng thời đồng bộ, liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.
Với doanh nghiệp, đây là phần cần theo dõi kỹ trong quá trình chuẩn bị. Việc cần làm không chỉ là tìm một giải pháp truy xuất nguồn gốc, mà trước hết phải rà soát dữ liệu sản phẩm, các mã đang sử dụng, hồ sơ chứng nhận và trách nhiệm của từng khâu trong chuỗi cung ứng.
Khi hàng hóa bước vào nền dữ liệu chung, giá trị của truy xuất nguồn gốc sẽ không chỉ nằm ở chiếc mã để người mua quét. Quan trọng hơn, đó phải là một “dấu chân” số đủ tin cậy để cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể trong chuỗi cung ứng có thể kiểm tra lại hành trình của hàng hóa khi cần.