Chính sách ưu đãi thuế linh kiệnô tô đang được tính toán theo hướng linh hoạt hơn, thay vì chỉ kéo dài thời hạn. Bộ Tài chính đề xuất thêm cơ chế thuế suất nhập khẩu 0% ngay tại thời điểm nhập khẩu linh kiện phục vụ xe xuất khẩu, đồng thời điều chỉnh kỳ xét và ngưỡng sản lượng để sát hơn với nhịp sản xuất thực tế của doanh nghiệp.
51.214 tỷ đồng thuế đã được hoàn
Chương trình ưu đãi thuế công nghiệp hỗ trợ ô tô được thực hiện từ năm 2018. Theo cơ chế hiện hành, doanh nghiệp đáp ứng điều kiện được áp dụng mức thuế nhập khẩu ưu đãi 0% đối với một số nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được. Cơ chế hiện được kéo dài đến ngày 31/12/2027.
![]() |
| Chính sách ưu đãi thuế linh kiện ô-tô đang được đề xuất điều chỉnh theo hướng sát hơn với thực tế sản xuất, dòng tiền và xuất khẩu của doanh nghiệp - Ảnh minh họa. |
Theo số liệu Cục Hải quan trong hồ sơ dự thảo, sau 16 kỳ ưu đãi, tổng số thuế nhập khẩu đã được hoàn cho 16 doanh nghiệp đạt 51.214 tỷ đồng, tính đến ngày 15/5/2026.
Con số này cho thấy chính sách có tác động trực tiếp đến chi phí đầu vào của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô. Tuy nhiên, câu chuyện được đặt ra không chỉ là giảm thuế nhập khẩu mà còn phải thúc đẩy sản xuất trong nước, phát triển nhà cung ứng và nâng khả năng cạnh tranh của ngành.
Trong hồ sơ sửa đổi Nghị định 26/2023/NĐ-CP, Bộ Tài chính đề xuất kéo dài chương trình đến hết năm 2032, thêm 5 năm so với thời hạn hiện hành. Theo cơ quan soạn thảo, thời gian dài hơn sẽ giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, đầu tư và có khả năng dự báo tốt hơn về chính sách.
Linh kiện cho xe xuất khẩu có thể được hưởng 0% ngay
Một điểm mới đáng chú ý nằm ở nhóm xe xuất khẩu.
Theo phương án được Bộ Tài chính đề xuất, doanh nghiệp có hợp đồng xuất khẩu xe hoặc bán xe cho doanh nghiệp khác đã có hợp đồng xuất khẩu có thể được áp dụng thuế suất nhập khẩu 0% đối với linh kiện ngay khi đăng ký tờ khai nhập khẩu, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Cách này khác với cơ chế doanh nghiệp nhập khẩu, nộp thuế rồi mới được hoàn sau khi đáp ứng điều kiện. Nếu được áp dụng, chính sách có thể giúp giảm lượng vốn phải ứng trước và chi phí tài chính trong quá trình sản xuất.
Đáng chú ý, phạm vi linh kiện phục vụ xe xuất khẩu được đề xuất rộng hơn cơ chế dành cho xe tiêu thụ trong nước. Theo hồ sơ dự thảo, linh kiện nhập khẩu để sản xuất xe xuất khẩu không bị giới hạn trong nhóm 98.49 và không loại trừ linh kiện trong nước đã sản xuất được.
Cơ chế này được đề xuất áp dụng cho ô tô nói chung, không phân biệt xe điện hay các dòng xe khác.
Trường hợp chưa đáp ứng điều kiện tại thời điểm nhập khẩu, doanh nghiệp vẫn thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định và có thể được xem xét hoàn thuế khi xe thực tế xuất khẩu hoặc khi đáp ứng đủ điều kiện hưởng ưu đãi.
Sản xuất không phải lúc nào cũng chạy theo một nhịp
Một nội dung khác được Bộ Tài chính tính đến là cách xác định sản lượng để doanh nghiệp được hưởng ưu đãi.
Theo hồ sơ dự thảo, sản lượng ô tô có thể biến động giữa các thời điểm trong năm do mùa vụ hoặc các chương trình kích cầu. Vì vậy, có trường hợp doanh nghiệp chưa đạt điều kiện trong 6 tháng đầu năm nhưng sản lượng tăng trong những tháng cuối năm, giúp tổng sản lượng cả năm đáp ứng yêu cầu.
Từ thực tế này, Bộ Tài chính đề xuất cho doanh nghiệp linh hoạt lựa chọn kỳ xét ưu đãi 6 tháng hoặc 12 tháng.
Cách tiếp cận này có ý nghĩa trực tiếp với doanh nghiệp sản xuất, bởi điều kiện ưu đãi nếu quá cứng theo từng kỳ có thể không phản ánh đầy đủ quy mô sản xuất thực tế.
|
Ngưỡng sản lượng xe xanh được tính lại
Với nhóm xe thân thiện môi trường, việc xác định ngưỡng sản lượng cũng là nội dung được góp ý trong quá trình hoàn thiện dự thảo.
Theo hồ sơ được nêu trong bài nguồn, phương án ban đầu từng đề xuất tăng ngưỡng sản lượng xe con thân thiện môi trường từ 250 lên 5.500 xe, tương đương 22 lần. Bộ Công Thương cho rằng cần cân nhắc mức tăng này trên cơ sở sự khác nhau về công nghệ, quy mô thị trường và số doanh nghiệp có khả năng đáp ứng.
Trong bản tiếp thu, Bộ Tài chính cho biết năm 2027 không thay đổi mức sản lượng đối với nhóm xe này, đồng thời điều chỉnh mức tăng của những năm tiếp theo so với phương án ban đầu.
Nhóm xe được đề cập gồm xe điện, xe sử dụng pin nhiên liệu, xe hybrid, xe sử dụng hoàn toàn nhiên liệu sinh học và xe sử dụng khí thiên nhiên.
Đây là điểm cho thấy việc thiết kế ưu đãi thuế đang phải tính đến một thực tế: các công nghệ mới không phát triển cùng một tốc độ, nên một ngưỡng sản lượng áp dụng đồng loạt có thể tạo ra khoảng cách giữa chính sách và năng lực sản xuất thực tế.
Giảm thủ tục, nhưng không buông quản lý
Bộ Tài chính cũng đề xuất bỏ thủ tục đăng ký tham gia Chương trình ưu đãi thuế. Doanh nghiệp sẽ kê khai mẫu xe và thời điểm áp dụng tại hồ sơ đề nghị hưởng ưu đãi.
![]() |
| Bộ Tài chính đề xuất kéo dài ưu đãi thuế nhập khẩu linh kiện phục vụ sản xuất, lắp ráp ô tô đến hết năm 2032, mở rộng cơ chế thuế suất 0% cho linh kiện sản xuất xe xuất khẩu. Điều kiện hưởng ưu đãi đang được rà soát để sát thực tế sản xuất - ẢNh minh họa. |
Những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ với Cơ quan Hải quan sẽ được khai thác, thay vì yêu cầu doanh nghiệp nộp lại.
Ở chiều ngược lại, Bộ Công Thương lưu ý cần tránh việc một linh kiện cùng lúc được hưởng hai cơ chế miễn, giảm thuế; đồng thời số lượng linh kiện hưởng mức 0% phải được xác định dựa trên định mức thực tế, số lượng xe trong hợp đồng và đơn đặt hàng xuất khẩu, có hạch toán riêng.
Với trường hợp doanh nghiệp sản xuất xe bán cho một doanh nghiệp khác để xuất khẩu, hồ sơ dự thảo cũng đặt trách nhiệm cung cấp chứng từ xuất khẩu lên doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu. Nếu thông tin không đầy đủ hoặc không chính xác, doanh nghiệp nhập khẩu linh kiện có thể không được hưởng ưu đãi đối với phần linh kiện liên quan.
Ưu đãi thuế phải đi cùng công nghiệp hỗ trợ
Bộ Công thương cơ bản thống nhất với chủ trương tiếp tục ưu đãi, nhưng đặt yêu cầu chính sách phải đồng thời phục vụ mục tiêu phát triển sản xuất trong nước, thu hút dự án mới và hình thành mạng lưới nhà cung ứng.
Điểm đáng lưu ý là ưu đãi thuế không nên chỉ tạo ra lợi ích ở khâu nhập khẩu linh kiện, mà cần góp phần nâng năng lực sản xuất trong nước. Nếu chi phí nhập khẩu giảm nhưng tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia chuỗi cung ứng không cải thiện, tác động dài hạn đối với ngành công nghiệp ô-tô sẽ bị hạn chế.
Trong khi đó, sản lượng ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đang tăng. Nửa đầu năm 2026, các doanh nghiệp trong nước xuất xưởng khoảng 284.600 xe, tăng 26,9% so với cùng kỳ; cả năm 2025 sản lượng đạt hơn 480.000 xe.
Vì vậy, việc sửa chính sách thuế lúc này không chỉ là câu chuyện kéo dài thêm thời hạn ưu đãi. Bài toán lớn hơn là thiết kế một cơ chế đủ linh hoạt để giảm áp lực dòng tiền, khuyến khích sản xuất và xuất khẩu, nhưng đồng thời tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi cung ứng trong nước.
Bộ Công Thương từng đề nghị kéo dài chương trình đến năm 2035, gắn với Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035. Trong bản tiếp thu, Bộ Tài chính cho biết đã báo cáo Thủ tướng phương án gia hạn đến năm 2032.
Nếu được ban hành theo phương án đang đề xuất, chính sách mới sẽ tác động trực tiếp tới cách doanh nghiệp tính toán chi phí linh kiện, dòng tiền nhập khẩu và kế hoạch sản xuất. Quan trọng hơn, hiệu quả cuối cùng vẫn phải được nhìn từ nhà máy: sản lượng tăng, tỷ lệ nội địa hóa cải thiện, nhà cung ứng trong nước tham gia sâu hơn và ngày càng nhiều sản phẩm ô tô sản xuất tại Việt Nam có thể bước ra thị trường quốc tế.