Trong kinh doanh, nhiều quyết định đắt giá được đưa ra không phải vì thiếu vốn mà vì thiếu thông tin. Một mặt bằng được thuê trước khi biết kế hoạch sử dụng đất; một dự án được rót vốn khi thông tin quy hoạch chưa được kiểm chứng; một đối tác được lựa chọn mà doanh nghiệp chưa tiếp cận được dữ liệu xử phạt, môi trường hoặc những thông tin công khai liên quan. Với doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và startup, “bất cân xứng thông tin” đôi khi chính là một loại chi phí vô hình.
Từ ngày 1/9/2026, Nghị định 337/2026/NĐ-CP đi vào thực thi cùng Luật Tiếp cận thông tin 2026. Điểm đáng chú ý không nằm ở việc xuất hiện thêm một thủ tục hành chính, mà ở cách Nhà nước tổ chức lại hạ tầng công khai và cung cấp thông tin theo hướng có đầu mối, có danh mục, có thời hạn và ngày càng số hóa.
![]() |
| Nghị định 337 mở đường dữ liệu công: Doanh nghiệp giảm rủi ro trước những quyết định đầu tư lớn |
Từ “tìm văn bản” sang tìm đúng dữ liệu phục vụ quyết định kinh doanh
Khoản 1 Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin 2026 mở rộng một nhóm thông tin công khai có giá trị trực tiếp đối với hoạt động kinh doanh: chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; thủ tục hành chính; thông tin về thuế, phí, lệ phí; dự án đầu tư kinh doanh; mua sắm công; kết quả lựa chọn nhà thầu; quy hoạch; kế hoạch sử dụng đất, giá đất; báo cáo đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường; thông tin thị trường lao động…
Với doanh nghiệp lớn, những dữ liệu này có thể chỉ là một nguồn đầu vào trong hệ thống nghiên cứu thị trường. Nhưng với doanh nghiệp vừa và nhỏ, startup hay hộ kinh doanh không có bộ phận pháp chế, đầu tư hoặc market intelligence riêng, khả năng tiếp cận dữ liệu chính thống có thể làm thay đổi chất lượng của một quyết định đầu tư.
Điểm mới đáng chú ý nằm ở Điều 7 Nghị định 337. Đơn vị đầu mối phải lập, cập nhật “Danh mục thông tin phải được công khai”; nếu thông tin đã nằm trên cơ sở dữ liệu hoặc cổng điện tử khác, danh mục phải có chỉ dẫn địa chỉ truy cập. Khoản 4 Điều 7 còn yêu cầu danh mục này được đăng trên chuyên mục về tiếp cận thông tin hoặc các kênh chính thức thích hợp.
Ý nghĩa chính sách ở đây khá rõ: chi phí tiếp cận thông tin không chỉ là vài nghìn đồng tiền sao chụp, mà còn là hàng giờ tìm kiếm, xác minh và phân biệt đâu là dữ liệu chính thống. Việc Nhà nước phải “chỉ đường” tới nguồn dữ liệu giúp giảm một phần chi phí tuân thủ đặc biệt lớn đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ.
Doanh nghiệp cần hiểu đúng: quyền này trước hết là quyền của công dân
Một chi tiết pháp lý dễ bị bỏ qua là Luật Tiếp cận thông tin quy định quyền tiếp cận thông tin của công dân, chứ không thiết kế một quyền yêu cầu độc lập cho pháp nhân doanh nghiệp. Khoản 2 Điều 29 của Luật và Điều 11 Nghị định 337 cho phép công dân yêu cầu thông tin thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp khi nhiều người trong tổ chức có cùng yêu cầu về một thông tin giống nhau; doanh nghiệp cử người đại diện, lập danh sách và sử dụng Mẫu số 01b.
Đây là điểm chủ doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý. Không nên mặc nhiên coi giấy giới thiệu của công ty là đủ căn cứ để yêu cầu mọi loại thông tin. Việc xác định ai là người yêu cầu, thông tin cần gì, có liên quan tới quyền lợi nào và có thuộc trường hợp tiếp cận có điều kiện hay không phải được xử lý ngay từ đầu.
“Không tìm thấy trên website” chưa đồng nghĩa với “không được công khai”
Khoản 1 Điều 15 Nghị định 337 cho các cơ quan, đơn vị thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực để hoàn thành quy chế và xây dựng chuyên mục tiếp cận thông tin trong trường hợp có cổng hoặc trang thông tin điện tử.
Vì vậy, trong giai đoạn chuyển tiếp, doanh nghiệp không nên kết luận rằng thông tin không xuất hiện trên website thì Nhà nước không có nghĩa vụ cung cấp. Điều 23 Luật 2026 cho phép yêu cầu cả thông tin thuộc diện phải công khai nhưng đang trong thời hạn công khai mà chưa được công khai, hoặc trong một số trường hợp người yêu cầu không thể tiếp cận được.
Với doanh nghiệp, thay đổi quan trọng nhất vì thế không phải là “có thêm quyền hỏi”, mà là hình thành thói quen kiểm chứng dữ liệu công trước khi ký hợp đồng, thuê đất, đầu tư dự án hoặc chọn đối tác. Khi dữ liệu chính thống trở nên dễ truy cập hơn, sự chủ quan trong thẩm định cũng khó được coi là một lý do thuyết phục cho một quyết định kinh doanh sai.