Một sai lệch trên hồ sơ thuế có thể không dừng ở việc phải nộp bổ sung phần nghĩa vụ còn thiếu. Khi hành vi bị xác định là trốn thuế, doanh nghiệp còn có thể chịu mức phạt lên tới 3 lần số tiền thuế trốn, tùy tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Quy định này đang được Bộ Tài chính hợp nhất tại Văn bản số 27/2026/VBHN-NĐ-BTC ngày 27/8/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn.
Mức phạt tăng theo tình tiết vi phạm
Theo quy định tại Điều 17 của văn bản hợp nhất, người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên và thực hiện các hành vi thuộc diện quy định sẽ bị phạt 1 lần số tiền thuế trốn.
![]() |
| Theo Văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-BTC của Bộ Tài chính, người nộp thuế thực hiện hành vi trốn thuế có thể bị xử phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn, tùy thuộc vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ (Ảnh minh họa). |
Nếu không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, mức phạt là 1,5 lần số tiền thuế trốn.
Mức phạt tiếp tục tăng khi xuất hiện tình tiết tăng nặng: một tình tiết là 2 lần; hai tình tiết là 2,5 lần; từ ba tình tiết tăng nặng trở lên là 3 lần số tiền thuế trốn.
Như vậy, cùng một hành vi trốn thuế nhưng mức xử phạt có thể khác nhau đáng kể tùy vào các tình tiết được xác định trong quá trình xử lý.
Đối với doanh nghiệp, đây là điểm cần đặc biệt lưu ý bởi chi phí của một sai phạm không chỉ nằm ở khoản thuế phải nộp bổ sung mà còn có thể tăng mạnh bởi tiền phạt và các nghĩa vụ khắc phục đi kèm.
Rủi ro bắt đầu từ những nghiệp vụ rất quen thuộc
Danh mục hành vi được quy định khá rộng, liên quan trực tiếp đến hoạt động kế toán, hóa đơn và khai thuế hàng ngày của doanh nghiệp.
Trong đó có các trường hợp không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp quá 90 ngày kể từ thời hạn quy định, trừ các trường hợp được loại trừ theo quy định.
Doanh nghiệp cũng có thể bị xử phạt nếu không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp; khai không đầy đủ hoặc khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, miễn, giảm.
Ở khâu hóa đơn, rủi ro gồm không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong trường hợp thuộc quy định; lập hóa đơn sai về số lượng, giá trị để khai thuế thấp hơn thực tế và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.
Việc sử dụng hóa đơn không hợp pháp hoặc sử dụng không hợp pháp hóa đơn để làm giảm số thuế phải nộp, tăng số thuế được hoàn, miễn, giảm cũng nằm trong nhóm hành vi được quy định.
Chứng từ và hàng hóa cũng là điểm phải kiểm soát
Không chỉ hóa đơn, chứng từ và hồ sơ nội bộ cũng có thể trở thành nguồn rủi ro.
Các hành vi sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai nghĩa vụ thuế đều thuộc diện được quy định.
Tương tự, việc lập hồ sơ, thủ tục hủy vật tư, hàng hóa không đúng thực tế nhằm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, miễn, giảm cũng có thể bị xử phạt.
Một trường hợp khác là sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích nhưng không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thuế với Cơ quan Thuế.
Doanh nghiệp hoạt động trong thời gian xin ngừng, tạm ngừng kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế, trừ trường hợp được quy định, cũng thuộc nhóm hành vi tại Điều 17.
Nộp lại thuế chưa phải là hết nghĩa vụ
Một điểm doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý là tiền phạt không thay thế nghĩa vụ thuế.
Người nộp thuế bị buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách Nhà nước đối với các hành vi thuộc các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 17.
Ngay cả khi hành vi trốn thuế đã quá thời hiệu xử phạt, người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế trốn và tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn theo quy định.
Ngoài ra, người nộp thuế còn có thể bị buộc điều chỉnh lại số lỗ và số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế, nếu thuộc các trường hợp quy định.
Đáng chú ý, một số hành vi được phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không làm giảm số thuế phải nộp, không làm tăng số tiền được hoàn, miễn, giảm sẽ được xử phạt theo quy định riêng tại khoản 3 Điều 12, thay vì xử lý theo nhóm hành vi trốn thuế nói trên.
Văn bản mới là “bản đồ” rủi ro thuế cho doanh nghiệp
Văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-BTC hợp nhất các quy định về hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Đối tượng áp dụng gồm người nộp thuế, công chức thuế, cơ quan thuế và các tổ chức, cá nhân liên quan. Trong nhóm người nộp thuế là tổ chức có doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc trực tiếp kê khai, nộp thuế, sử dụng hóa đơn; đơn vị sự nghiệp; tổ chức theo Luật Hợp tác xã; tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài và văn phòng điều hành của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh hoặc phát sinh thu nhập tại Việt Nam.
Với doanh nghiệp, thông điệp đáng chú ý nhất không nằm ở con số 3 lần. Đó là yêu cầu kiểm soát từ gốc: giao dịch phải có thật, hóa đơn phải đúng, chứng từ phải phản ánh đúng bản chất, sổ sách phải đầy đủ và hồ sơ khai thuế phải thống nhất với hoạt động thực tế.
Bởi khi ranh giới giữa một sai sót thuế và hành vi trốn thuế được xác định, chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu có thể tăng lên nhiều lần.