Quản lý một mặt hàng nhập khẩu không chỉ phụ thuộc vào mã HS hay mục đích sử dụng. Với những nguyên liệu thuộc danh mục hóa chất được kiểm soát, doanh nghiệp còn phải rà soát thành phần, hàm lượng và chính sách cấp phép trước khi thực hiện thủ tục hải quan.
Trường hợp chì thỏi được Cục Hải quan thông tin mới đây là một ví dụ đáng chú ý đối với các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu kim loại, hóa chất trong sản xuất.
Chì và hợp chất của chì thuộc diện kiểm soát đặc biệt
Theo Cục Hải quan, qua rà soát quy định hiện hành, “chì, các hợp chất của chì” thuộc Phụ lục III - Danh mục hóa chất cần kiểm soát đặc biệt ban hành kèm Nghị định số 24/2026/NĐ-CP ngày 17/1/2026 của Chính phủ. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ban hành.
![]() |
| Chì và các hợp chất của chì thuộc Phụ lục III, Danh mục hóa chất cần kiểm soát đặc biệt. |
Quy định này được đặt ra trong bối cảnh Công ty TNHH Le Long Việt Nam phản ánh vướng mắc khi nhập khẩu chì thỏi, mã HS tham chiếu 78.01, để sản xuất bình ắc quy.
Theo doanh nghiệp, chì thỏi có hàm lượng chì nguyên chất trên 99% và chiếm khoảng 60-70% lượng nguyên liệu sản xuất bình ắc quy. Do đó, doanh nghiệp kiến nghị có cách quản lý phù hợp hơn đối với chì thỏi dạng rắn so với các dạng hợp chất hoặc bột chì.
Tuy nhiên, từ góc độ quản lý hóa chất, việc một mặt hàng ở dạng rắn hay được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất không đồng nghĩa với việc đương nhiên được loại khỏi phạm vi kiểm soát.
Điểm doanh nghiệp cần lưu ý là Phần II Phụ lục III của Nghị định số 24/2026/NĐ-CP quy định hỗn hợp chất cần kiểm soát đặc biệt là hỗn hợp chứa ít nhất một thành phần thuộc nhóm 1 của Danh mục hóa chất cần kiểm soát đặc biệt với hàm lượng lớn hơn 1% khối lượng.
Nhập khẩu phải chuẩn bị giấy phép theo quy định
Khi hàng hóa thuộc diện hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, vấn đề quan trọng đối với doanh nghiệp là giấy phép nhập khẩu.
Theo thông tin của Cục Hải quan, trường hợp nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, doanh nghiệp phải có Giấy phép nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt. Hồ sơ, trình tự và thủ tục cấp, cấp lại, cấp điều chỉnh giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện theo Điều 14 Nghị định số 26/2026/NĐ-CP. Nghị định này quy định chi tiết việc quản lý hoạt động hóa chất và hóa chất nguy hiểm trong sản phẩm, hàng hóa, có hiệu lực từ ngày 17/1/2026.
Doanh nghiệp cũng cần rà soát các trường hợp được miễn giấy phép. Theo Cục Hải quan, các trường hợp miễn Giấy phép xuất nhập khẩu được quy định tại Điều 21 Nghị định số 26/2026/NĐ-CP, đồng thời được sửa đổi, bổ sung tại khoản V Phần C Mục 2 Phụ lục III ban hành kèm Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP.
Như vậy, không nên chỉ căn cứ vào tên thương mại, dạng vật lý hoặc mục đích sử dụng của nguyên liệu để kết luận có phải xin phép hay không. Doanh nghiệp cần đối chiếu đồng thời danh mục hóa chất, thành phần và hàm lượng của hàng hóa với chính sách quản lý hiện hành.
Không có thời gian chuyển tiếp riêng cho hóa chất mới được đưa vào danh mục
Một vấn đề khác có ý nghĩa trực tiếp với doanh nghiệp là thời điểm bắt đầu áp dụng quy định.
Cục Hải quan cho biết, căn cứ quy định chuyển tiếp tại Điều 48 Nghị định số 26/2026/NĐ-CP, pháp luật chuyên ngành hiện không quy định thời hạn chuyển tiếp đối với trường hợp hóa chất mới được đưa vào Phụ lục III - Danh mục hóa chất cần kiểm soát đặc biệt.
Theo đó, kể từ thời điểm Nghị định số 26/2026/NĐ-CP và Nghị định số 24/2026/NĐ-CP có hiệu lực, doanh nghiệp phải có giấy phép xuất nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt để thực hiện thủ tục hải quan theo quy định.
Điều này đặt ra yêu cầu khá rõ đối với bộ phận xuất nhập khẩu và pháp chế doanh nghiệp: khi chính sách quản lý một mặt hàng thay đổi, cần kiểm tra ngay hiệu lực của quy định mới thay vì chờ đến khi phát sinh vướng mắc tại khâu thông quan.
Rủi ro xử phạt được xem xét theo chính sách quản lý hàng hóa
Đối với trường hợp vi phạm, Cục Hải quan cho biết việc xem xét, xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện căn cứ Nghị định số 128/2020/NĐ-CP và trên cơ sở chính sách quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu do các bộ quản lý chuyên ngành ban hành.
Điều này cũng cho thấy doanh nghiệp không nên chỉ nhìn vấn đề dưới góc độ “có được thông quan hay không”. Việc thiếu giấy phép hoặc không đáp ứng chính sách quản lý chuyên ngành có thể kéo theo vấn đề về tuân thủ và xử lý vi phạm hành chính, tùy tính chất, thời điểm và tình tiết cụ thể của vụ việc.
Với những doanh nghiệp thường xuyên nhập khẩu nguyên liệu có thành phần hóa chất, bài học thực tế là cần xây dựng quy trình rà soát chính sách trước khi ký hợp đồng và mở tờ khai, nhất là khi có danh mục hàng hóa mới được bổ sung vào diện kiểm soát.
Kiến nghị chính sách phải gửi đúng cơ quan có thẩm quyền
Đối với đề nghị phân biệt phương thức quản lý chì thỏi dạng rắn với các dạng hợp chất, bột chì cũng như kiến nghị xem xét giảm nhẹ chế tài do độ trễ trong chuyển tiếp pháp luật, Cục Hải quan cho rằng đây là vấn đề thuộc chính sách quản lý chuyên ngành.
Vì vậy, Cục Hải quan đề nghị Công ty TNHH Le Long Việt Nam có văn bản kiến nghị Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) để được xem xét, giải quyết theo đúng thẩm quyền.
Với cộng đồng doanh nghiệp, trường hợp này cũng gợi mở một nguyên tắc quan trọng trong quản trị tuân thủ: khi một nguyên liệu sản xuất nằm trong diện quản lý chuyên ngành, doanh nghiệp cần xác định đúng cơ quan cấp phép, kiểm tra đầy đủ điều kiện trước khi nhập khẩu và chủ động kiến nghị khi quy định phát sinh bất cập.
Đặc biệt, với các mặt hàng vừa được đưa vào danh mục kiểm soát, doanh nghiệp nên rà soát lại toàn bộ quy trình nhập khẩu, từ hợp đồng, hồ sơ kỹ thuật, thành phần hàng hóa đến giấy phép chuyên ngành. Đây là cách giảm rủi ro phát sinh ngay tại cửa khẩu và hạn chế chi phí do phải xử lý thủ tục sau khi hàng đã về đến Việt Nam.