Điều này cũng là cơ sở để xác định mức thuế xuất khẩu 5% đang áp dụng với mặt hàng.
Xử lý nhiệt làm thay đổi cách phân loại
Trước kiến nghị của Hiệp hội Gỗ & Lâm sản Việt Nam liên quan đến chính sách thuế xuất khẩu và việc phân loại các mặt hàng có tên khai báo “viên nén đen đã gia nhiệt”, “than làm từ mùn cưa”, Cục Hải quan đã đưa ra hướng dẫn dựa trên các quy định về phân loại hàng hóa.
![]() |
| Nguyên liệu gỗ, dăm bào hoặc phế phẩm sau khai thác được đưa vào máy nghiền để tạo thành mùn cưa có kích thước nhỏ đồng đều. Nguyên liệu khô đạt chuẩn được nén trong máy ép với áp suất và nhiệt độ cao. Dưới tác động cơ học, lignin trong gỗ nóng chảy và đóng vai trò chất kết dính tự nhiên, tạo nên viên nén hình trụ. |
Theo đó, không thể chỉ dựa vào tên thương mại hoặc tên khai báo để xác định mã hàng. Cơ quan Hải quan phải xem xét thành phần, bản chất hàng hóa và quy trình sản xuất thực tế, sau đó đối chiếu với Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam và các quy định liên quan.
Điểm cần phân biệt nằm ở hai nhóm hàng trong Chương 44.
Nhóm 44.01 bao gồm gỗ nhiên liệu, vỏ bào, dăm gỗ, mùn cưa, phế liệu và mảnh vụn gỗ, kể cả trường hợp được đóng thành khối, bánh hoặc viên. Riêng “viên gỗ” thuộc phân nhóm 4401.31 phải đáp ứng các điều kiện về nguyên liệu, cách tạo viên và kích thước theo Chú giải phân nhóm Chương 44.
Trong khi đó, nhóm 44.02 dành cho than củi, kể cả than đốt từ vỏ quả hoặc hạt, ở dạng chưa hoặc đã đóng thành khối.
Chính sự khác biệt về bản chất này quyết định việc một sản phẩm từ mùn cưa tiếp tục được xem là viên gỗ hay chuyển sang nhóm than củi.
Viên nén đen được xác định là than sinh học
Cục Hải quan dẫn trường hợp “viên gỗ nén đen đã gia nhiệt” từng được Cục Kiểm định hải quan phân tích tại Thông báo kết quả phân tích số 51/TB-KĐHQ ngày 22/6/2021.
![]() |
| Công chức ngành hải quan thực hiện công tác kiểm tra hàng hóa nhập khẩu. |
Kết quả cho thấy đây là than sinh học (Torrefied biomass hay bio-coal) dạng viên hình trụ tròn, chiều dài không đều. Sản phẩm được tạo ra từ gỗ thông qua quy trình Torrefaction, ở nhiệt độ tối đa 300°C trong môi trường Nitơ trong 30 phút.
Các chỉ tiêu phân tích gồm hàm lượng tro 2,6%, cacbon 50,81%, lưu huỳnh 0,033% và nhiệt lượng 5.049 kcal/kg.
Từ kết quả này, Cơ quan Hải quan xác định sản phẩm phù hợp với nhóm 44.02, tức “Than củi (kể cả than đốt từ vỏ quả hoặc hạt), đã hoặc chưa đóng thành khối”.
Cách phân loại này cũng phù hợp với Chú giải chi tiết HS nhóm 44.02 của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO). Theo đó, than củi được tạo ra khi gỗ bị carbon hóa trong điều kiện không tiếp xúc với không khí và có thể được phân loại vào nhóm này dù tồn tại dưới dạng khối, que, hạt, bột hoặc được đóng thành bánh, viên, khối cầu.
Vì vậy, với “viên nén đen đã gia nhiệt” hay “than làm từ mùn cưa”, quy trình tạo ra sản phẩm có ý nghĩa quyết định đối với mã phân loại.
Thuế 5% là mức thấp nhất trong khung hiện hành
Việc xếp vào nhóm 44.02 cũng dẫn tới một hệ quả trực tiếp đối với doanh nghiệp xuất khẩu: mặt hàng thuộc khung thuế xuất khẩu từ 5% đến 25%.
Trước kiến nghị cho rằng mức thuế 5% đối với “viên nén đen đã gia nhiệt” chưa phù hợp, Cục Hải quan cho biết mức thuế này đối với phân nhóm 4402.90 phù hợp với khung thuế suất hiện hành và là mức thấp nhất trong khung áp dụng cho các mặt hàng thuộc phân nhóm.
Đáng chú ý, khung thuế này được quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Vì vậy, việc điều chỉnh mức thuế không phải vấn đề có thể giải quyết đơn thuần bằng hướng dẫn phân loại của Ccơ quan Hhải quan.
Với các mặt hàng gỗ lạng thuộc nhóm 44.08, trong đó có các mã HS 4408.10.30, 4408.39.20 và 4408.90.90, Cục Hải quan cũng cho biết hiện đang áp dụng khung thuế xuất khẩu 5-25%. Kiến nghị bỏ thuế đối với các mặt hàng này không thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
Chính sách thuế gỗ có thể được xem xét lại
Cục Hải quan cho biết ngày 15/6/2026, Bộ Tài chính đã có Công văn số 8088/BTC-PC gửi Bộ Tư pháp, đề xuất bổ sung Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào Chương trình lập pháp năm 2027.
Dự kiến dự án luật được trình Quốc hội tại Kỳ họp tháng 10/2027. Trong quá trình xây dựng luật, Bộ Tài chính sẽ tổng hợp ý kiến của Hiệp hội Gỗ & Lâm sản Việt Nam.
Trước đó, đối với các kiến nghị liên quan thuế xuất khẩu gỗ xẻ sản xuất từ gỗ tròn nhập khẩu, viên than ép, viên nén đen và gỗ lạng, Bộ Tài chính đã có Công văn số 2232/CST-XNK ngày 31/7/2020 trả lời Hiệp hội Gỗ & Lâm sản Việt Nam.
Như vậy, với doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu viên nén đen, mấu chốt trước mắt vẫn là xác định đúng bản chất hàng hóa và mã HS theo quy trình sản xuất thực tế. Còn nếu muốn thay đổi khung thuế hiện hành, vấn đề sẽ phải được đặt trong quá trình sửa đổi Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.