| Nghị định 169/2026/NĐ-CP sai một tờ khai hải quan: Vì sao doanh nghiệp có thể mất nhiều hơn tiền phạt? |
Một lô hàng đã được đưa về kho chưa chắc đã đủ điều kiện để bán, gia công hoặc đưa vào lưu thông. Nghị định 169/2026/NĐ-CP đặt ra các chế tài đối với hành vi vi phạm giám sát hải quan, chứng từ, dữ liệu điện tử và quản lý hàng hóa. Trong chuỗi logistics có nhiều bên cùng tham gia, khoảng trống nguy hiểm nhất có thể xuất hiện khi không ai biết chính xác hàng đang ở trạng thái pháp lý nào và ai có quyền quyết định bước tiếp theo.
Kho hàng không phải vùng an toàn ngoài sự giám sát hải quan
Điều 13 Nghị định 169 quy định các hành vi vi phạm trong quá trình giám sát hải quan.
Theo điểm a khoản 2 Điều 13, vận chuyển những nhóm hàng thuộc phạm vi quy định không đúng tuyến đường, lộ trình, địa điểm, cửa khẩu hoặc thời hạn có thể bị phạt từ 10 triệu đến 20 triệu đồng đối với tổ chức.
Điểm c và điểm d cùng khoản quy định về việc không bảo quản nguyên trạng hàng hóa hoặc lưu giữ hàng không đúng địa điểm trong những trường hợp cụ thể.
Khoản 3 Điều 13 quy định mức phạt từ 20 triệu đến 30 triệu đồng đối với hành vi vi phạm quy định về tình trạng niêm phong trong quá trình vận chuyển hàng đang chịu giám sát hải quan.
Đặc biệt, khoản 5 Điều 13 quy định mức phạt từ 40 triệu đến 50 triệu đồng đối với hành vi tiêu thụ hàng hóa được đưa về bảo quản chờ hoàn thành thông quan.
Đây là điểm cần được doanh nghiệp nhìn nhận dưới góc độ vận hành.
Hàng đã đưa về kho không đồng nghĩa hàng đã được phép tiêu thụ. Quyền chiếm giữ thực tế khác với quyền định đoạt hợp pháp trong từng chế độ hải quan.
Nếu bộ phận kinh doanh yêu cầu giao hàng gấp nhưng bộ phận kho không kiểm tra tình trạng giám sát, nguy cơ vi phạm có thể phát sinh ngay trong nội bộ doanh nghiệp.
Giải pháp không phức tạp về nguyên tắc: phân loại trạng thái pháp lý của từng lô hàng, quy định điều kiện được xuất kho và xác định người có quyền phê duyệt.
![]() |
| Nghị định 169/2026/NĐ-CP Hàng nằm trong kho, rủi ro chưa nằm yên: Ai chịu trách nhiệm khi chuỗi logistics sai luật? |
Một chữ ký số bị sử dụng sai có thể tạo rủi ro lớn hơn hồ sơ giấy
Điều 12 Nghị định 169 cho thấy rủi ro hải quan đã gắn chặt với quản trị dữ liệu điện tử.
Điểm b khoản 2 Điều 12 quy định mức phạt từ 2 triệu đến 4 triệu đồng đối với vi phạm về lập, lưu trữ hồ sơ, chứng từ, sổ sách, dữ liệu điện tử.
Điểm b khoản 3 Điều 12 quy định mức phạt từ 4 triệu đến 10 triệu đồng đối với việc cung cấp không đầy đủ hoặc không đúng thời hạn hồ sơ, chứng từ, tài liệu, dữ liệu trong trường hợp tương ứng.
Nghiêm trọng hơn, các điểm a, b, c khoản 7 Điều 12 quy định mức phạt từ 40 triệu đến 80 triệu đồng đối với những hành vi như sử dụng chứng từ giả mạo, dùng bất hợp pháp tài khoản hoặc chữ ký số của chủ thể khác, truy cập trái phép và làm sai lệch hệ thống thông tin hải quan.
Các hành vi này không thể được xem như lỗi nhập liệu thông thường.
Doanh nghiệp đang sử dụng đại lý khai thuê hoặc nền tảng quản lý hồ sơ điện tử cần xác định rõ tài khoản nào thuộc quyền quản lý của ai, nhân sự nào được phân quyền và cơ chế thu hồi quyền truy cập ra sao.
Hợp đồng với đơn vị dịch vụ cũng phải phân biệt trách nhiệm cung cấp thông tin, thực hiện khai báo, sử dụng chữ ký số và lưu trữ bằng chứng giao dịch.
Trong thương mại quốc tế, quản trị dữ liệu hải quan thực chất là quản trị quyền đại diện và trách nhiệm pháp lý.
Bảo vệ quyền lợi chủ hàng phải bắt đầu bằng việc xác định đúng tang vật vi phạm
Nghị định 169 không chỉ quy định chế tài mà còn xác lập giới hạn áp dụng một số biện pháp ngăn chặn.
Khoản 2 Điều 27 quy định, trong một lô hàng có cả hàng là tang vật vi phạm hành chính và hàng không phải tang vật vi phạm, chỉ được tạm giữ phần hàng là tang vật vi phạm.
Quy định này đặc biệt có ý nghĩa đối với doanh nghiệp nhỏ khi cùng một lô hàng chứa nhiều loại sản phẩm hoặc nhiều phần hàng có tình trạng pháp lý khác nhau.
Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, doanh nghiệp cần có hồ sơ cho phép nhận diện rõ hàng hóa, số lượng, chứng từ và phạm vi có liên quan đến hành vi vi phạm.
Đối với đơn vị logistics, không nên suy luận việc có nhiều bên tham gia đồng nghĩa tất cả cùng bị xử phạt như nhau. Trách nhiệm phải được xác định theo hành vi và chủ thể cụ thể.
Một điểm khác cần chú ý là khoản 1 Điều 39 về chuyển tiếp: đối với hành vi xảy ra, kết thúc trước ngày 1/7/2026 nhưng bị phát hiện hoặc xem xét xử phạt sau đó, quy định mới được áp dụng nếu không đặt ra trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm nhẹ hơn.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 39 có quy định riêng đối với quyết định xử phạt đã ban hành trước ngày Nghị định có hiệu lực mà còn khiếu nại.
Vì vậy, việc rà soát hồ sơ cũ phải căn cứ đúng thời điểm và tình trạng pháp lý của vụ việc, không thể áp dụng cơ học văn bản mới cho mọi trường hợp.
Doanh nghiệp phải kiểm soát cả hàng hóa lẫn quyền quyết định
Nghị định 169 cho thấy trách nhiệm hải quan tồn tại xuyên suốt quá trình khai báo, vận chuyển, lưu giữ và quản lý dữ liệu.
Doanh nghiệp cần kiểm soát trạng thái pháp lý của hàng trong kho, phân quyền khai báo điện tử và làm rõ trách nhiệm với đối tác logistics. Hộ kinh doanh tham gia xuất nhập khẩu cần đặc biệt chú ý chứng từ nguồn gốc và quyền định đoạt đối với hàng đang chịu giám sát.
Điểm yếu nguy hiểm nhất của một chuỗi logistics không phải lúc nào cũng nằm ở công nghệ hay phương tiện vận chuyển. Đôi khi, đó là việc một kiện hàng được đưa ra khỏi kho trước khi người có trách nhiệm kịp kiểm tra xem nó đã được phép đi hay chưa.
