Thứ bảy 27/06/2026 22:11
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

Năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật: Hai “điểm nghẽn” lớn nhất cho sự hợp tác

Ông Nguyễn Bá Hải - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư đã có cuộc chia sẻ với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập về “điểm nghẽn” lớn nhất đang cản trở hợp tác giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) Việt Nam và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật: Hai “điểm nghẽn” lớn nhất cho sự hợp tác
Ông Nguyễn Bá Hải - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư.

Phóng viên: Với xu hướng phát triển các khu công nghiệp thế hệ mới gắn với chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn bền vững, theo ông, đâu là những yêu cầu “bắt buộc” mà DNVVN Việt Nam phải đáp ứng nếu muốn tham gia chuỗi cung ứng của các dự án FDI? khâu nào doanh nghiệp trong nước hiện đang yếu nhất?

Ông Nguyễn Bá Hải: Để tham gia sâu và bền vững vào chuỗi cung ứng của các dự án FDI, đặc biệt trong bối cảnh các khu công nghiệp thế hệ mới đang dịch chuyển theo hướng xanh, thông minh và bền vững, các DNVVN của Việt Nam cần đáp ứng một số yêu cầu gần như bắt buộc, bao gồm:

Thứ nhất, minh bạch về nguồn gốc và khả năng truy xuất xuất xứ sản phẩm. Đây là yêu cầu ngày càng chặt chẽ từ các thị trường phát triển nhằm kiểm soát rủi ro chuỗi cung ứng, tuân thủ các quy định về thương mại quốc tế, đặc biệt là để đáp ứng các tiêu chí về môi trường – xã hội – quản trị (ESG).

Thứ hai, áp dụng và tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn quốc tế trong sản xuất như ISO 9001 (quản lý chất lượng), ISO 14001 (quản lý môi trường), ISO 45001 (an toàn lao động), IATF 16949 (lĩnh vực ô tô), HACCP/ISO 22000 (thực phẩm)… Đây là nền tảng để bảo đảm chất lượng ổn định, hạn chế rủi ro và đáp ứng yêu cầu khắt khe từ các tập đoàn đa quốc gia.

Thứ ba, triển khai các giải pháp giảm phát thải và sản xuất thân thiện môi trường, tiến tới đạt các chứng chỉ “xanh” cho sản phẩm và nhà máy, như Carbon Neutral, Ecolabel, hay các tiêu chuẩn ngành như OEKO-TEX (dệt may), EPEAT (điện tử), hoặc đáp ứng cơ chế CBAM của EU trong tương lai gần.

Thứ tư, đảm bảo năng lực thực hiện đơn hàng (Order Fulfillment Capability): Năng lực giao hàng đúng thời hạn, đúng chất lượng, yếu tố then chốt để trở thành nhà cung ứng tin cậy trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ năm, khả năng cải tiến, đổi mới sáng tạo: thay vì chỉ tham gia gia công đơn giản, doanh nghiệp cần hướng tới sản phẩm có hàm lượng công nghệ, thiết kế, hoặc tích hợp dịch vụ đi kèm để nâng cao giá trị gia tăng.

Thứ sáu, năng lực quản trị và minh bạch tài chính: các doanh nghiệp FDI ngày càng ưu tiên lựa chọn đối tác có hệ thống kế toán kiểm toán rõ ràng, có khả năng kiểm soát rủi ro và tuân thủ pháp luật địa phương.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh và trở thành mắt xích đáng tin cậy trong chuỗi giá trị toàn cầu, DNVVN không chỉ cần nỗ lực nâng cấp toàn diện về vận hành - công nghệ - quản trị, mà còn cần tư duy dài hạn về phát triển bền vững, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời, cần tận dụng tốt hơn các cơ chế hỗ trợ từ phía Chính phủ, các tổ chức xúc tiến thương mại và đầu tư, và mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước để rút ngắn quá trình chuyển đổi và từng bước hội nhập sâu vào hệ sinh thái FDI chất lượng cao.

Phóng viên: Từ những yêu cầu đó, thực tế cho thấy nhiều DNVVN vẫn “mù mờ” thông tin thị trường và khó tiếp cận kênh phân phối toàn cầu. Cục Xúc tiến thương mại sẽ triển khai những chiến lược hay công cụ mới nào để giúp họ chủ động “nói chuyện cùng ngôn ngữ” với thị trường quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh?

Ông Nguyễn Bá Hải: Để hỗ trợ DNVVN tiếp cận tốt hơn với kênh phân phối toàn cầu, Cục Xúc tiến thương mại đã và đang xây dựng Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số, với mục tiêu tăng cường khả năng tiếp cận thông tin thị trường quốc tế cho DNVVN thông qua nền tảng số. Theo đó, chúng tôi đã xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu quản trị và xúc tiến thương mại, cho phép các Sở Công Thương, Trung tâm Xúc tiến thương mại địa phương, Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài và các hiệp hội ngành hàng cập nhật thông tin thị trường theo thời gian thực.

Hệ thống này giúp DNVVN tiếp cận thông tin về nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn xuất khẩu và xu hướng tiêu dùng quốc tế. Đến năm 2030, mục tiêu là 100% tổ chức xúc tiến thương mại và hơn 200.000 doanh nghiệp được cấp tài khoản trên Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số, với 50% trong số đó phát sinh giao dịch.

Cục Xúc tiến thương mại cũng đã liên kết với doanh nghiệp FDI để cung cấp Hệ thống dữ liệu về yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn của các tập đoàn FDI, giúp DNVVN điều chỉnh sản phẩm/dịch vụ để đáp ứng tiêu chí tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của các dự án FDI.

Bên cạnh đó, các hội thảo trực tuyến trên nền tảng số được tổ chức định kỳ để kết nối DNVVN với các tập đoàn FDI, giúp doanh nghiệp hiểu rõ cách tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, từ sản xuất linh kiện đến cung ứng nguyên liệu.

Bên cạnh việc xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu, chúng tôi tăng cường hội chợ, triển lãm và giao thương quốc tế để tạo cơ hội cho DNVVN kết nối trực tiếp với nhà phân phối và đối tác chiến lược quốc tế; đào tạo và tư vấn chuyên sâu giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của DNVVN; tận dụng Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) để giảm chi phí thuế quan và mở rộng thị trường xuất khẩu cho DNVVN.

Đồng thời, ứng dụng công nghệ trong logistics và chuỗi cung ứng nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm chi phí logistics để DNVVN cạnh tranh tốt hơn.

Năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật: Hai “điểm nghẽn” lớn nhất cho sự hợp tác
“Điểm nghẽn” lớn nhất cản trở hợp tác giữa DNVVN và doanh nghiệp FDI là năng lực doanh nghiệp, tiêu chuẩn kỹ thuật. Ảnh minh họa

Phóng viên: Từ kinh nghiệm tổ chức các chương trình kết nối cung – cầu, ông nhận thấy “điểm nghẽn” lớn nhất đang cản trở hợp tác giữa DNVVN Việt Nam và doanh nghiệp FDI là gì? đến từ năng lực doanh nghiệp, tiêu chuẩn kỹ thuật, hay cơ chế chính sách? Theo ông, đâu là giải pháp đột phá để tháo gỡ, thay vì chỉ xử lý từng vụ việc riêng lẻ?

Ông Nguyễn Bá Hải: Năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật đang là hai “điểm nghẽn” lớn cản trở hợp tác giữa DNVVN Việt Nam và doanh nghiệp FDI. Cụ thể, về năng lực doanh nghiệp, quy mô sản xuất của doanh nghiệp còn hạn chế. Nhiều DNVVN thiếu năng lực sản xuất quy mô lớn, ổn định để đáp ứng đơn hàng khối lượng cao từ các tập đoàn FDI như Samsung, Intel, hoặc Toyota.

DNVVN cũng thiếu hệ thống quản trị hiện đại dẫn đến khó khăn trong việc đảm bảo chất lượng, tiến độ giao hàng, và tối ưu hóa chi phí; thiếu kỹ năng thương mại quốc tế. DNVVN thường không quen với ngôn ngữ đàm phán, xây dựng hồ sơ năng lực, hoặc đáp ứng các yêu cầu về minh bạch hóa chuỗi cung ứng.

Về tiêu chuẩn kỹ thuật, các tập đoàn FDI đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và sản xuất bền vững (net-zero, giảm phát thải). Trong khi, nhiều DNVVN không có đủ nguồn lực để đạt các chứng nhận cần thiết hoặc đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật phức tạp, như độ chính xác cao trong sản xuất linh kiện điện tử.

Việc đầu tư vào công nghệ, dây chuyền sản xuất hiện đại, hoặc hệ thống kiểm soát chất lượng để đáp ứng tiêu chuẩn FDI đòi hỏi vốn lớn, vượt khả năng của nhiều DNVVN.

Hiện nay, mặc dù cơ chế chính sách chưa phải là điểm nghẽn chính, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế như: Quy trình cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) hoặc hỗ trợ tài chính cho DNVVN còn phức tạp, chậm trễ; thiếu cơ chế ưu đãi cụ thể để khuyến khích DNVVN tham gia chuỗi cung ứng FDI, như giảm thuế cho doanh nghiệp cung ứng linh kiện hoặc nguyên liệu.

Như vậy, có thể khẳng định, năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật là hai “điểm nghẽn” chính, với trọng số lớn hơn so với cơ chế chính sách. Do các tập đoàn FDI thường ưu tiên lựa chọn nhà cung ứng dựa trên khả năng đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và quy mô sản xuất, trước khi xem xét đến các yếu tố chính sách hỗ trợ. Tuy nhiên, cơ chế chính sách nếu được cải thiện có thể đóng vai trò xúc tác quan trọng để tháo gỡ các điểm nghẽn còn lại.

Để tháo gỡ “điểm nghẽn” trên, thay vì xử lý từng vụ việc riêng lẻ (như hỗ trợ từng doanh nghiệp đạt chứng nhận hoặc kết nối từng đối tác FDI), các giải pháp đột phá cần tập trung vào xây dựng mô hình hợp tác hệ sinh thái và nâng cấp năng lực toàn diện cho DNVVN.

Đó là xây dựng Hệ sinh thái kết nối cung - cầu với mô hình cụm liên kết ngành; phát triển một nền tảng số quốc gia (dựa trên Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số) để kết nối DNVVN với các tập đoàn FDI. Nền tảng này sẽ cung cấp thông tin về nhu cầu cung ứng, tiêu chuẩn kỹ thuật, và hồ sơ đấu thầu của các tập đoàn FDI.

Cùng với đó là giải pháp nâng cấp năng lực doanh nghiệp toàn diện như thực hiện chương trình đào tạo tập trung vào tiêu chuẩn FDI; hỗ trợ tài chính và công nghệ; cải cách cơ chế chính sách để thúc đẩy hợp tác (đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện chính sách ưu đãi đặc thù, xây dựng thương hiệu cho DNVVN).

Trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài khác
TS Lê Duy Bình đề xuất chuyển tư duy hỗ trợ sang phát triển doanh nghiệp nhỏ

TS Lê Duy Bình đề xuất chuyển tư duy hỗ trợ sang phát triển doanh nghiệp nhỏ

TS Lê Duy Bình nhấn mạnh cần thay đổi cách tiếp cận doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ tư duy hỗ trợ sang kiến tạo môi trường phát triển, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và tự thân lớn mạnh.
ThS. Nguyễn Hoa Cương: Cần cải cách mạnh để chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

ThS. Nguyễn Hoa Cương: Cần cải cách mạnh để chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

ThS. Nguyễn Hoa Cương đề xuất cải cách mạnh mẽ nhằm đưa nguồn lực đến đúng đối tượng, tạo tác động thực chất cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
CEO Lê Thị Yến: Chuyển từ hỗ trợ sang thúc đẩy để doanh nghiệp bứt phá

CEO Lê Thị Yến: Chuyển từ hỗ trợ sang thúc đẩy để doanh nghiệp bứt phá

CEO Lê Thị Yến đề xuất đổi tư duy chính sách từ hỗ trợ sang thúc đẩy, đồng thời gỡ nút thắt kế toán, thuế nhằm tạo động lực phát triển cho hàng triệu hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp.
Khơi thông vốn tư nhân qua PPP, cần cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng minh bạch

Khơi thông vốn tư nhân qua PPP, cần cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng minh bạch

Trong bối cảnh nhu cầu vốn phát triển ngày càng lớn, khu vực tư nhân được kỳ vọng đóng vai trò chủ lực, song cơ chế chia sẻ rủi ro trong PPP vẫn là điểm nghẽn cần sớm thể chế hóa để tạo niềm tin.
PGS-TS Nguyễn Chỉ Sáng: Cần doanh nghiệp nòng cốt để làm chủ công nghiệp vật liệu quốc gia

PGS-TS Nguyễn Chỉ Sáng: Cần doanh nghiệp nòng cốt để làm chủ công nghiệp vật liệu quốc gia

Theo PGS-TS Nguyễn Chỉ Sáng, Việt Nam phải lựa chọn doanh nghiệp nòng cốt, xây dựng cơ chế đặc thù để làm chủ công nghiệp vật liệu, từ đó tạo nền tảng cho mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp phát triển vào năm 2045.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Định giá bất động sản cần cơ chế đột phá để tháo điểm nghẽn

TS. Nguyễn Văn Khôi: Định giá bất động sản cần cơ chế đột phá để tháo điểm nghẽn

TS. Nguyễn Văn Khôi - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Namcho rằng định giá bất động sản đang trở thành điểm nghẽn thể chế, gây ách tắc dòng vốn, làm chậm tiến độ dự án và cần cơ chế đột phá để khơi thông thị trường.
TS. Nguyễn Trí Hiếu: Giải bài toán dòng tiền quyết định thành bại đầu tư bất động sản

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Giải bài toán dòng tiền quyết định thành bại đầu tư bất động sản

TS. Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh dòng tiền là yếu tố cốt lõi quyết định hiệu quả đầu tư bất động sản, đặc biệt phân khúc cho thuê, đồng thời đề xuất chính sách hỗ trợ nhằm tạo động lực phát triển bền vững thị trường.
Hoàn thiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thực chất, số hóa và tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân

Hoàn thiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thực chất, số hóa và tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân

Tại Hội thảo “Tham vấn chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, gợi mở định hướng hoàn thiện chính sách trong giai đoạn mới”, bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Trưởng phòng Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho biết, Bộ Tài chính đang khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự thảo luật để gửi Bộ Tư pháp thẩm định trong tháng 6/2026.
TS. Cấn Văn Lực: Gỡ 20% dự án tồn đọng, kinh tế có thêm 670.000 tỷ đồng

TS. Cấn Văn Lực: Gỡ 20% dự án tồn đọng, kinh tế có thêm 670.000 tỷ đồng

Theo TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, hàng nghìn dự án bị ách tắc đang “giam” nguồn lực khổng lồ, nếu tháo gỡ hiệu quả, nền kinh tế có thể được bổ sung hàng trăm nghìn tỷ đồng mỗi năm.
TS. Samuel Feldberg cảnh báo những rủi ro có thể thay đổi trật tự kinh tế toàn cầu và chiến lược cho doanh nghiệp Việt

TS. Samuel Feldberg cảnh báo những rủi ro có thể thay đổi trật tự kinh tế toàn cầu và chiến lược cho doanh nghiệp Việt

Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang đối mặt với những biến động chưa từng có về địa chính trị, công nghệ, thương mại và tài chính, Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (UTT) đã phối hợp cùng Đại sứ quán Israel tại Việt Nam tổ chức Tọa đàm quốc tế với chủ đề: "Những thách thức của nền kinh tế thế giới trong bối cảnh hiện nay".
Sai lầm phổ biến khi chọn trường, chọn ngành và lời khuyên dành cho học sinh trước ngưỡng cửa đại học

Sai lầm phổ biến khi chọn trường, chọn ngành và lời khuyên dành cho học sinh trước ngưỡng cửa đại học

TS. Hoàng Thị Thu Phương – Giảng viên Khoa Kinh doanh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) nhận định, những điều chỉnh trong quy chế tuyển sinh đại học năm nay không đơn thuần là thay đổi về mặt kỹ thuật, mà mang tính định hướng sâu sắc, buộc học sinh lớp 12 phải tư duy kỹ càng về chiến lược nguyện vọng, chuyển dịch từ chiến lược "rải thảm" sang "nhắm trúng đích".
TS. Nguyễn Đức Kiên: Quy hoạch Thủ đô cần tầm nhìn dài hạn và đột phá

TS. Nguyễn Đức Kiên: Quy hoạch Thủ đô cần tầm nhìn dài hạn và đột phá

TS. Nguyễn Đức Kiên cho rằng quy hoạch Hà Nội phải tiếp cận dài hạn, lấy hạ tầng giao thông làm nền tảng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, hiện thực hóa khát vọng quốc gia đến năm 2045.
Kiến trúc sư - TS. Ngô Viết Nam Sơn: TP. Hồ Chí Minh và bài toán 100 năm

Kiến trúc sư - TS. Ngô Viết Nam Sơn: TP. Hồ Chí Minh và bài toán 100 năm

"Tầm nhìn 100 năm không phải là chúng ta ngồi hôm nay thiết kế hết mọi thứ cho 100 năm sau. Điều quan trọng là phải để dành tài nguyên cho thế hệ tương lai, để trăm năm sau con cháu chúng ta vẫn còn dư địa phát triển", Tiến sĩ khoa học, Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn - Chủ tịch NgoViet Architects & Planners nhấn mạnh.
Thị trường bất động sản bước vào chu kỳ phát triển dựa trên giá trị thực

Thị trường bất động sản bước vào chu kỳ phát triển dựa trên giá trị thực

Theo bà Phạm Thị Miền - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu đánh giá thị trường BĐS Việt Nam, thị trường bất động sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển mình rõ nét, khi các yếu tố đầu cơ dần nhường chỗ cho nhu cầu thực và giá trị khai thác bền vững. Sự thay đổi này phản ánh một chu kỳ phát triển mới, nơi dòng tiền trở nên thận trọng và có chọn lọc hơn.
Chấm dứt thời kỳ "ôm" tài sản đầu cơ và tối hậu thư phát triển nhà ở cho thuê

Chấm dứt thời kỳ "ôm" tài sản đầu cơ và tối hậu thư phát triển nhà ở cho thuê

Thị trường bất động sản không thể mãi là nơi chôn vốn của các dòng tiền đầu cơ kém thanh khoản. Cơ chế tăng trưởng mới đặt nhà ở cho thuê thành một trụ cột chiến lược, ép cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp phải sòng phẳng cấu trúc lại nguồn cung từ nay đến năm 2030.