Thứ năm 03/09/2026 10:02
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Góc nhìn Chuyên gia

Năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật: Hai “điểm nghẽn” lớn nhất cho sự hợp tác

Ông Nguyễn Bá Hải - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư đã có cuộc chia sẻ với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập về “điểm nghẽn” lớn nhất đang cản trở hợp tác giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) Việt Nam và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật: Hai “điểm nghẽn” lớn nhất cho sự hợp tác
Ông Nguyễn Bá Hải - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư.

Phóng viên: Với xu hướng phát triển các khu công nghiệp thế hệ mới gắn với chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn bền vững, theo ông, đâu là những yêu cầu “bắt buộc” mà DNVVN Việt Nam phải đáp ứng nếu muốn tham gia chuỗi cung ứng của các dự án FDI? khâu nào doanh nghiệp trong nước hiện đang yếu nhất?

Ông Nguyễn Bá Hải: Để tham gia sâu và bền vững vào chuỗi cung ứng của các dự án FDI, đặc biệt trong bối cảnh các khu công nghiệp thế hệ mới đang dịch chuyển theo hướng xanh, thông minh và bền vững, các DNVVN của Việt Nam cần đáp ứng một số yêu cầu gần như bắt buộc, bao gồm:

Thứ nhất, minh bạch về nguồn gốc và khả năng truy xuất xuất xứ sản phẩm. Đây là yêu cầu ngày càng chặt chẽ từ các thị trường phát triển nhằm kiểm soát rủi ro chuỗi cung ứng, tuân thủ các quy định về thương mại quốc tế, đặc biệt là để đáp ứng các tiêu chí về môi trường – xã hội – quản trị (ESG).

Thứ hai, áp dụng và tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn quốc tế trong sản xuất như ISO 9001 (quản lý chất lượng), ISO 14001 (quản lý môi trường), ISO 45001 (an toàn lao động), IATF 16949 (lĩnh vực ô tô), HACCP/ISO 22000 (thực phẩm)… Đây là nền tảng để bảo đảm chất lượng ổn định, hạn chế rủi ro và đáp ứng yêu cầu khắt khe từ các tập đoàn đa quốc gia.

Thứ ba, triển khai các giải pháp giảm phát thải và sản xuất thân thiện môi trường, tiến tới đạt các chứng chỉ “xanh” cho sản phẩm và nhà máy, như Carbon Neutral, Ecolabel, hay các tiêu chuẩn ngành như OEKO-TEX (dệt may), EPEAT (điện tử), hoặc đáp ứng cơ chế CBAM của EU trong tương lai gần.

Thứ tư, đảm bảo năng lực thực hiện đơn hàng (Order Fulfillment Capability): Năng lực giao hàng đúng thời hạn, đúng chất lượng, yếu tố then chốt để trở thành nhà cung ứng tin cậy trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ năm, khả năng cải tiến, đổi mới sáng tạo: thay vì chỉ tham gia gia công đơn giản, doanh nghiệp cần hướng tới sản phẩm có hàm lượng công nghệ, thiết kế, hoặc tích hợp dịch vụ đi kèm để nâng cao giá trị gia tăng.

Thứ sáu, năng lực quản trị và minh bạch tài chính: các doanh nghiệp FDI ngày càng ưu tiên lựa chọn đối tác có hệ thống kế toán kiểm toán rõ ràng, có khả năng kiểm soát rủi ro và tuân thủ pháp luật địa phương.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh và trở thành mắt xích đáng tin cậy trong chuỗi giá trị toàn cầu, DNVVN không chỉ cần nỗ lực nâng cấp toàn diện về vận hành - công nghệ - quản trị, mà còn cần tư duy dài hạn về phát triển bền vững, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời, cần tận dụng tốt hơn các cơ chế hỗ trợ từ phía Chính phủ, các tổ chức xúc tiến thương mại và đầu tư, và mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước để rút ngắn quá trình chuyển đổi và từng bước hội nhập sâu vào hệ sinh thái FDI chất lượng cao.

Phóng viên: Từ những yêu cầu đó, thực tế cho thấy nhiều DNVVN vẫn “mù mờ” thông tin thị trường và khó tiếp cận kênh phân phối toàn cầu. Cục Xúc tiến thương mại sẽ triển khai những chiến lược hay công cụ mới nào để giúp họ chủ động “nói chuyện cùng ngôn ngữ” với thị trường quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh?

Ông Nguyễn Bá Hải: Để hỗ trợ DNVVN tiếp cận tốt hơn với kênh phân phối toàn cầu, Cục Xúc tiến thương mại đã và đang xây dựng Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số, với mục tiêu tăng cường khả năng tiếp cận thông tin thị trường quốc tế cho DNVVN thông qua nền tảng số. Theo đó, chúng tôi đã xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu quản trị và xúc tiến thương mại, cho phép các Sở Công Thương, Trung tâm Xúc tiến thương mại địa phương, Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài và các hiệp hội ngành hàng cập nhật thông tin thị trường theo thời gian thực.

Hệ thống này giúp DNVVN tiếp cận thông tin về nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn xuất khẩu và xu hướng tiêu dùng quốc tế. Đến năm 2030, mục tiêu là 100% tổ chức xúc tiến thương mại và hơn 200.000 doanh nghiệp được cấp tài khoản trên Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số, với 50% trong số đó phát sinh giao dịch.

Cục Xúc tiến thương mại cũng đã liên kết với doanh nghiệp FDI để cung cấp Hệ thống dữ liệu về yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn của các tập đoàn FDI, giúp DNVVN điều chỉnh sản phẩm/dịch vụ để đáp ứng tiêu chí tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của các dự án FDI.

Bên cạnh đó, các hội thảo trực tuyến trên nền tảng số được tổ chức định kỳ để kết nối DNVVN với các tập đoàn FDI, giúp doanh nghiệp hiểu rõ cách tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, từ sản xuất linh kiện đến cung ứng nguyên liệu.

Bên cạnh việc xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu, chúng tôi tăng cường hội chợ, triển lãm và giao thương quốc tế để tạo cơ hội cho DNVVN kết nối trực tiếp với nhà phân phối và đối tác chiến lược quốc tế; đào tạo và tư vấn chuyên sâu giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của DNVVN; tận dụng Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) để giảm chi phí thuế quan và mở rộng thị trường xuất khẩu cho DNVVN.

Đồng thời, ứng dụng công nghệ trong logistics và chuỗi cung ứng nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm chi phí logistics để DNVVN cạnh tranh tốt hơn.

Năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật: Hai “điểm nghẽn” lớn nhất cho sự hợp tác
“Điểm nghẽn” lớn nhất cản trở hợp tác giữa DNVVN và doanh nghiệp FDI là năng lực doanh nghiệp, tiêu chuẩn kỹ thuật. Ảnh minh họa

Phóng viên: Từ kinh nghiệm tổ chức các chương trình kết nối cung – cầu, ông nhận thấy “điểm nghẽn” lớn nhất đang cản trở hợp tác giữa DNVVN Việt Nam và doanh nghiệp FDI là gì? đến từ năng lực doanh nghiệp, tiêu chuẩn kỹ thuật, hay cơ chế chính sách? Theo ông, đâu là giải pháp đột phá để tháo gỡ, thay vì chỉ xử lý từng vụ việc riêng lẻ?

Ông Nguyễn Bá Hải: Năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật đang là hai “điểm nghẽn” lớn cản trở hợp tác giữa DNVVN Việt Nam và doanh nghiệp FDI. Cụ thể, về năng lực doanh nghiệp, quy mô sản xuất của doanh nghiệp còn hạn chế. Nhiều DNVVN thiếu năng lực sản xuất quy mô lớn, ổn định để đáp ứng đơn hàng khối lượng cao từ các tập đoàn FDI như Samsung, Intel, hoặc Toyota.

DNVVN cũng thiếu hệ thống quản trị hiện đại dẫn đến khó khăn trong việc đảm bảo chất lượng, tiến độ giao hàng, và tối ưu hóa chi phí; thiếu kỹ năng thương mại quốc tế. DNVVN thường không quen với ngôn ngữ đàm phán, xây dựng hồ sơ năng lực, hoặc đáp ứng các yêu cầu về minh bạch hóa chuỗi cung ứng.

Về tiêu chuẩn kỹ thuật, các tập đoàn FDI đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và sản xuất bền vững (net-zero, giảm phát thải). Trong khi, nhiều DNVVN không có đủ nguồn lực để đạt các chứng nhận cần thiết hoặc đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật phức tạp, như độ chính xác cao trong sản xuất linh kiện điện tử.

Việc đầu tư vào công nghệ, dây chuyền sản xuất hiện đại, hoặc hệ thống kiểm soát chất lượng để đáp ứng tiêu chuẩn FDI đòi hỏi vốn lớn, vượt khả năng của nhiều DNVVN.

Hiện nay, mặc dù cơ chế chính sách chưa phải là điểm nghẽn chính, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế như: Quy trình cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) hoặc hỗ trợ tài chính cho DNVVN còn phức tạp, chậm trễ; thiếu cơ chế ưu đãi cụ thể để khuyến khích DNVVN tham gia chuỗi cung ứng FDI, như giảm thuế cho doanh nghiệp cung ứng linh kiện hoặc nguyên liệu.

Như vậy, có thể khẳng định, năng lực doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật là hai “điểm nghẽn” chính, với trọng số lớn hơn so với cơ chế chính sách. Do các tập đoàn FDI thường ưu tiên lựa chọn nhà cung ứng dựa trên khả năng đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và quy mô sản xuất, trước khi xem xét đến các yếu tố chính sách hỗ trợ. Tuy nhiên, cơ chế chính sách nếu được cải thiện có thể đóng vai trò xúc tác quan trọng để tháo gỡ các điểm nghẽn còn lại.

Để tháo gỡ “điểm nghẽn” trên, thay vì xử lý từng vụ việc riêng lẻ (như hỗ trợ từng doanh nghiệp đạt chứng nhận hoặc kết nối từng đối tác FDI), các giải pháp đột phá cần tập trung vào xây dựng mô hình hợp tác hệ sinh thái và nâng cấp năng lực toàn diện cho DNVVN.

Đó là xây dựng Hệ sinh thái kết nối cung - cầu với mô hình cụm liên kết ngành; phát triển một nền tảng số quốc gia (dựa trên Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số) để kết nối DNVVN với các tập đoàn FDI. Nền tảng này sẽ cung cấp thông tin về nhu cầu cung ứng, tiêu chuẩn kỹ thuật, và hồ sơ đấu thầu của các tập đoàn FDI.

Cùng với đó là giải pháp nâng cấp năng lực doanh nghiệp toàn diện như thực hiện chương trình đào tạo tập trung vào tiêu chuẩn FDI; hỗ trợ tài chính và công nghệ; cải cách cơ chế chính sách để thúc đẩy hợp tác (đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện chính sách ưu đãi đặc thù, xây dựng thương hiệu cho DNVVN).

Trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài khác
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, VIFC không thay thế ngân hàng hay chứng khoán mà mở ra kênh dẫn vốn mới, giúp Việt Nam tiếp cận dòng vốn quốc tế mà thị trường hiện tại chưa khai thác hết.
Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng cho rằng kinh tế tầm thấp đang mở ra không gian tăng trưởng mới, nhưng Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý đồng bộ, bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế với yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành sẽ mở rộng khả năng kết nối của Đồng Nai với du khách, nhà đầu tư và các dòng hàng hóa quốc tế. Nhưng để biến lợi thế giao thông thành doanh thu, địa phương cần kết nối du lịch, logistics, dịch vụ và doanh nghiệp thành một chuỗi trải nghiệm.
CEO DK Bike Bùi Thị Bích Đào: “Hòn đá tảng” về đất đai và nhân lực

CEO DK Bike Bùi Thị Bích Đào: “Hòn đá tảng” về đất đai và nhân lực

Theo Giám đốc DK Bike Bùi Thị Bích Đào, quỹ đất sản xuất và chất lượng nhân lực đang là hai điểm nghẽn lớn với doanh nghiệp tại Lạng Sơn. Bà kỳ vọng Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ đồng hành sâu sát hơn trong tháo gỡ chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp.
145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

Khoảng cách giữa 145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội được bố trí và 12.440 tỷ đồng đã giải ngân cho thấy bài toán của thị trường bất động sản không đơn giản là thiếu vốn. Dòng tiền chỉ thực sự phát huy tác dụng khi gặp đúng dự án, đúng nhu cầu và một cấu trúc tài chính đủ an toàn.
TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính cho rằng du lịch phục hồi, hạ tầng được đầu tư và chính sách dần tháo gỡ đang tạo nền tảng để bất động sản nghỉ dưỡng lấy lại niềm tin giai đoạn 2026-2027.
Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được, luật sửa đổi cần chuyển từ tư duy “có chính sách” sang bảo đảm doanh nghiệp biết được hỗ trợ gì, hỏi ai, hồ sơ ra sao và bao lâu có câu trả lời. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã trao đổi cùng ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng xung quanh vấn đề này.
TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

Theo TS. Nguyễn Văn Đính, quy định thời hạn chung cư cần được hiểu là công cụ quản lý vòng đời công trình, không phải giới hạn quyền sở hữu, nhằm đảm bảo an toàn và minh bạch thị trường.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn cảnh báo những xung đột pháp lý trong dự thảo luật mới đang làm tắc nghẽn giao dịch, đồng thời đề xuất giải pháp thực tiễn nhằm khơi thông thị trường bất động sản.
PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung nhấn mạnh Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi phải lấy số hóa, tài chính hóa làm trụ cột, đồng thời xử lý triệt để xung đột với Luật Đất đai.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh sửa Luật Kinh doanh bất động sản phải hướng tới kiến tạo thị trường minh bạch, khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả phân bổ và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương cho rằng dữ liệu số là nền tảng cốt lõi giúp thị trường bất động sản minh bạch, giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng sức hút vốn dài hạn.
Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, phía sau kết quả đó là nghịch lý khi phần lớn nguyên liệu vẫn được bán dưới dạng dăm gỗ và viên nén, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo lại thiếu gỗ nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân,việc xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM được kỳ vọng mở ra kênh huy động vốn dài hạn, giúp Việt Nam nâng cấp mô hình tăng trưởng và tiến gần hơn tới mục tiêu bứt phá kinh tế.
AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

Từ kinh nghiệm điều hành một doanh nghiệp Việt Nam, bà Phạm Thị Thu Hằng - Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc 5S Media đề xuất mô hình ba vai trò và lộ trình năm bước giúp DNNVV biến AI từ công cụ tạo hiệu suất ngắn hạn thành năng lực vận hành có thể duy trì, nhân rộng và tạo giá trị lâu dài.