Thứ tư 04/11/2026 02:55
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIV: Carboncor Asphalt - Giải pháp hiệu quả để Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0

26/08/2024 16:08
Việt Nam đang tích cực triển khai giải pháp xây dựng xanh để đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Những giải pháp này giảm phát thải khí nhà kính và hỗ trợ sự phát triển bền vững cho ngành xây dựng.
Ảnh minh họa
Vật liệu xanh giải pháp này giảm phát thải khí nhà kính và hỗ trợ sự phát triển bền vững cho ngành xây dựng (Ảnh: Minh họa)

Sử dụng tín chỉ carbon là chiến lược bù đắp khí nhà kính

Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thực hiện cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, việc áp dụng vật liệu xây dựng xanh trở thành một yếu tố quan trọng. Vật liệu xây dựng xanh, như bê tông nhựa Carboncor Asphalt (CA) và các vật liệu tái chế, đóng vai trò then chốt trong việc giảm phát thải khí nhà kính và trung hòa carbon. CA, chẳng hạn, được sản xuất và thi công ở nhiệt độ thường, giúp giảm tới 71,8% lượng khí CO2 so với bê tông nhựa nóng truyền thống, đồng thời tiết kiệm năng lượng tiêu thụ lên đến 78,4%. Sự giảm thiểu này không chỉ giúp giảm ô nhiễm môi trường mà còn hỗ trợ mục tiêu phát thải thấp hơn của Việt Nam.

Hơn nữa, các vật liệu xây dựng xanh thường được sản xuất từ nguyên liệu tái chế hoặc có khả năng tái chế cao, góp phần giảm lượng chất thải xây dựng. Ví dụ, gạch và bê tông sản xuất từ tro bay hoặc chất thải công nghiệp không chỉ giảm lượng chất thải mà còn giảm nhu cầu về nguyên liệu thô, giảm thiểu sự khai thác tài nguyên thiên nhiên. Việc sử dụng các vật liệu này giúp giảm lượng khí CO2 phát thải trong quá trình sản xuất và xây dựng, đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

Ngoài việc giảm phát thải khí nhà kính, vật liệu xây dựng xanh cũng giúp nâng cao hiệu quả năng lượng trong các công trình xây dựng. Các vật liệu như cách nhiệt hiệu suất cao và lớp phủ phản xạ nhiệt giúp giảm nhu cầu sử dụng năng lượng cho hệ thống điều hòa không khí và sưởi ấm, từ đó giảm lượng khí thải carbon liên quan đến tiêu thụ năng lượng. Việc tích hợp các giải pháp này trong xây dựng không chỉ giúp giảm mức tiêu thụ năng lượng mà còn hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.

Như vậy, việc áp dụng vật liệu xây dựng xanh là một bước quan trọng để Việt Nam giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới mục tiêu trung hòa carbon. Những vật liệu này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả môi trường trong ngành xây dựng mà còn đóng góp vào nỗ lực chung của quốc gia trong việc bảo vệ trái đất cho các thế hệ tương lai.

Tín chỉ carbon trong ngành vật liệu xây dựng có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để thúc đẩy phát triển bền vững. Các công ty sản xuất vật liệu xây dựng có thể thu mua tín chỉ carbon để bù đắp cho lượng phát thải CO2 trong quá trình sản xuất của họ. Đồng thời, các dự án xây dựng có thể sử dụng tín chỉ carbon như một phần của chiến lược bù đắp khí nhà kính trong khi thực hiện các cải tiến công nghệ và quy trình để giảm phát thải. Ví dụ, các dự án xây dựng với công nghệ xanh như bê tông nhựa Carboncor Asphalt (CA) có thể kiếm được tín chỉ carbon thông qua việc giảm phát thải so với các vật liệu truyền thống.

Việc áp dụng tín chỉ carbon trong ngành vật liệu xây dựng không chỉ giúp các công ty và dự án đạt được các mục tiêu giảm phát thải mà còn tạo ra động lực cho việc phát triển và áp dụng công nghệ xanh. Tín chỉ carbon có thể làm tăng giá trị thương hiệu và sự cạnh tranh của các công ty trong thị trường xây dựng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các khoản đầu tư vào các giải pháp bền vững. Hơn nữa, việc mua và sử dụng tín chỉ carbon có thể hỗ trợ các dự án bảo vệ môi trường, như trồng rừng hoặc cải tạo đất, giúp cân bằng tác động môi trường từ ngành xây dựng.

Ảnh minh họa
Carboncor Asphalt đã được sử dụng rộng rãi trên toàn quốc trong các dự án nâng cấp và cải tạo đường giao thông.

Để quản lý và giám sát việc sử dụng tín chỉ carbon hiệu quả, các tiêu chuẩn và quy định cần được thiết lập rõ ràng. Việc công nhận và chứng nhận tín chỉ carbon phải dựa trên các phương pháp đo lường và kiểm tra đáng tin cậy để đảm bảo tính chính xác và minh bạch. Các cơ quan quản lý và tổ chức chứng nhận phải làm việc chặt chẽ với các bên liên quan trong ngành xây dựng để xây dựng hệ thống tín chỉ carbon hiệu quả, đồng thời thúc đẩy việc áp dụng các công nghệ và vật liệu giảm phát thải.

Việt Nam đã áp dụng CA trong nhiều dự án từ năm 2008 và chính thức cấp phép vào năm 2009. CA đã được sử dụng rộng rãi trên toàn quốc trong các dự án nâng cấp và cải tạo đường giao thông. Kết quả khảo sát cho thấy, mặt đường CA duy trì độ bằng phẳng tốt, độ nhám đồng đều, và không có hiện tượng hư hỏng đáng kể. Tuy nhiên, cần nghiên cứu thêm các tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của các công trình sử dụng CA.

Carboncor Asphalt góp phần vào cam kết của Việt Nam đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050

Carboncor Asphalt (CA) là một loại bê tông nhựa đặc biệt được sản xuất và thi công ở nhiệt độ thường, mang lại nhiều lợi ích về môi trường. Công nghệ CA được coi là giải pháp xanh, thân thiện với môi trường nhờ khả năng giảm phát thải khí nhà kính. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Giao thông Vận tải năm 2024, tổng phát thải khí nhà kính của CA chỉ đạt 11,7 kg CO2-eq/tấn bê tông, giảm tới 71,8% so với bê tông nhựa nóng (BTNN), với mức phát thải lên tới 41,5 kg CO2-eq/tấn bê tông. Hơn nữa, mức tiêu thụ năng lượng của CA là 111,5 MJ/tấn bê tông, giảm 78,4% so với 516,6 MJ/tấn bê tông của BTNN. Những số liệu này cho thấy, CA là một giải pháp hiệu quả trong việc giảm phát thải khí nhà kính, góp phần vào cam kết của Việt Nam đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, như đã được nêu tại Hội nghị COP26 và khẳng định tiếp tục tại COP28.

Theo đó, Carboncor Asphalt đã được thử nghiệm thành công tại Việt Nam từ năm 2008 và được Bộ Giao thông Vận tải chính thức cấp phép vào năm 2009. Đến năm 2014, Tổng Cục Đường bộ Việt Nam đã ban hành TCCS 09:2014 về thi công và nghiệm thu lớp CA trong xây dựng và sửa chữa kết cấu áo đường ô tô. Kể từ đó, CA đã được áp dụng rộng rãi ở ba miền Bắc, Trung, Nam và cả đảo Cô Tô. Nó đã được sử dụng cho các dự án nâng cấp, cải tạo và làm mới đường từ quốc lộ, tỉnh lộ đến các tuyến đường huyện và liên xã.

Ảnh minh họa
Kết quả khảo sát chất lượng tiêu thụ và phát thải nhà kính của bê tông Carboncor Asphalt và bê tông nhựa (Ảnh: Phan Chính)

Mặc dù CA đã được sử dụng rộng rãi, các tiêu chuẩn hiện hành vẫn chưa bao gồm các kết cấu điển hình và thông số lớp vật liệu CA. Do đó, việc nghiên cứu để xác định các thông số vật liệu CA phục vụ thiết kế kết cấu áo đường mềm theo TCCS 38 và TCCS 37 là cần thiết. Điển hình như, mặt đường các dự án sử dụng CA ở cả ba miền và đảo Cô Tô, từ đó đề xuất các kết cấu điển hình cho việc sử dụng CA tại Việt Nam.

Trong hơn một thập kỷ qua, vật liệu Carboncor Asphalt (CA) đã được áp dụng cho trên 1.100 công trình, với tổng chiều dài vượt 2.000 km trên toàn quốc, từ Bắc vào Nam. Để đánh giá hiệu quả thực tế của các dự án sử dụng CA, vào năm 2023, Công ty cổ phần Carboncor Việt Nam phối hợp với các Chủ đầu tư, Phòng Thí nghiệm trọng điểm đường bộ I – Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải, cùng nhóm nghiên cứu, tiến hành khảo sát các dự án tại cả ba miền Bắc, Trung và Nam. Các tuyến đường được khảo sát bao gồm huyện đảo Cô Tô và đường tỉnh 329 ở Quảng Ninh (miền Bắc), các tuyến đường tại Nghệ An và Hà Tĩnh (miền Trung), cùng với các tuyến tại Đồng Nai và Bến Tre (miền Nam).

Đại diện Công ty cổ phần Carboncor Việt Nam cho biết, công tác đánh giá thực hiện bao gồm nhiều phương diện để kiểm tra chất lượng mặt đường CA. Cụ thể, nhóm khảo sát đã tiến hành nhận xét và đánh giá tình trạng chung của mặt đường, xác định các dạng hư hỏng nếu có. Các chỉ tiêu kỹ thuật được kiểm tra bao gồm đo độ bằng phẳng mặt đường bằng thước 3 m theo TCVN 8864:2011, đo độ nhám mặt đường bằng phương pháp rắc cát và con lắc Anh theo các tiêu chuẩn TCVN 8866:2011 và ASTM E303, và đo vệt hằn lún bánh xe bằng thước thép 3m nếu có.

“Kết quả khảo sát hiện trạng mặt đường tại các dự án sử dụng vật liệu Carboncor Asphalt (CA) sau thời gian khai thác từ 1 đến 12 năm cho thấy bề mặt áo đường vẫn duy trì độ bằng phẳng ổn định, với các chỉ số đo độ bằng phẳng bằng thước 3m đều đạt yêu cầu. Kết cấu áo đường tỏ ra ổn định với độ nhám bề mặt đồng đều, và cả phương pháp rắc cát lẫn phương pháp con lắc Anh đều cho kết quả đạt tiêu chuẩn, đảm bảo các điều kiện khai thác”, vị đại diện này chia sẻ.

Ngoài ra, không có hiện tượng xô dồn, bong bật vật liệu, hay hằn lún vệt bánh xe trên các tuyến đường sử dụng CA. Dính bám giữa lớp vật liệu CA và lớp mặt dưới (bao gồm cả lớp bê tông xi măng) được đánh giá là khá tốt. Tuy nhiên, tại các dự án có lớp CA trên bê tông xi măng cũ, sau từ 1 đến 6 năm khai thác, xuất hiện nứt phản ánh tại các vị trí khe co giãn của mặt đường bê tông xi măng.

Phan Chính

Tin bài khác
Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Với mục tiêu kịp thời tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án và mở rộng năng lực sản xuất, ngày 3/11, Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Trung Kiên dẫn đầu Đoàn công tác thành phố đến thăm, kiểm tra và làm việc với 3 doanh nghiệp công nghệ cao trọng điểm trên địa bàn phường Đông Hải. Qua đó, thành phố tiếp tục khẳng định vai trò đồng hành, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế địa phương.
Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong 10 tháng năm 2026 khi tổng vốn FDI đăng ký đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ và cao nhất kể từ năm 2009. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt 24,08 tỷ USD, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua, cho thấy dòng vốn ngoại không chỉ gia tăng về đăng ký mà còn được đẩy mạnh giải ngân.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp tiếp tục được củng cố trong tháng 10/2026, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4% – mức cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu.
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.
Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Cả nước đã kiểm kê 20 loại tài sản công với tổng nguyên giá hơn 12,87 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô nguồn lực khổng lồ là những bất cập trong hạch toán, bàn giao và sử dụng tài sản. Yêu cầu hiện nay không chỉ là hoàn thiện sổ sách mà phải đưa tài sản có khả năng khai thác trở lại phục vụ hoạt động công, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026 đang đặt nền kinh tế trước yêu cầu tăng tốc mạnh trong quý cuối năm. Trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ tập trung tháo gỡ những rào cản, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các giải pháp kiểm soát lạm phát, nhằm tạo dư địa cho sản xuất, kinh doanh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh lần thứ 281, ngày 30/10, nhiều kiến nghị tập trung vào những thủ tục phát sinh trong suốt vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, từ đăng ký đầu tư, thay đổi nội dung kinh doanh đến giải thể và chấm dứt hoạt động đơn vị trực thuộc. Những vấn đề được nêu ra đặt ra yêu cầu không chỉ giải đáp tại hội nghị mà còn phải theo dõi, đôn đốc và công khai kết quả xử lý.
IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt 5.259 USD trong năm 2026, cao hơn mức 5.153 USD của Indonesia. Đây là bước tiến đáng chú ý trong tương quan quy mô kinh tế giữa hai nước, trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư và mở rộng sản xuất hướng tới xuất khẩu.
Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu sẽ thảo luận nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 được đặt ra cùng yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Tại Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 48 (AMAF 48) ở Singapore, Việt Nam đề xuất ba định hướng ưu tiên nhằm củng cố an ninh lương thực, thúc đẩy nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và đẩy nhanh chuyển đổi số, qua đó nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp khu vực.