Thứ năm 24/09/2026 00:38
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIV: Carboncor Asphalt - Giải pháp hiệu quả để Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0

26/08/2024 16:08
Việt Nam đang tích cực triển khai giải pháp xây dựng xanh để đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Những giải pháp này giảm phát thải khí nhà kính và hỗ trợ sự phát triển bền vững cho ngành xây dựng.
Ảnh minh họa
Vật liệu xanh giải pháp này giảm phát thải khí nhà kính và hỗ trợ sự phát triển bền vững cho ngành xây dựng (Ảnh: Minh họa)

Sử dụng tín chỉ carbon là chiến lược bù đắp khí nhà kính

Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thực hiện cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, việc áp dụng vật liệu xây dựng xanh trở thành một yếu tố quan trọng. Vật liệu xây dựng xanh, như bê tông nhựa Carboncor Asphalt (CA) và các vật liệu tái chế, đóng vai trò then chốt trong việc giảm phát thải khí nhà kính và trung hòa carbon. CA, chẳng hạn, được sản xuất và thi công ở nhiệt độ thường, giúp giảm tới 71,8% lượng khí CO2 so với bê tông nhựa nóng truyền thống, đồng thời tiết kiệm năng lượng tiêu thụ lên đến 78,4%. Sự giảm thiểu này không chỉ giúp giảm ô nhiễm môi trường mà còn hỗ trợ mục tiêu phát thải thấp hơn của Việt Nam.

Hơn nữa, các vật liệu xây dựng xanh thường được sản xuất từ nguyên liệu tái chế hoặc có khả năng tái chế cao, góp phần giảm lượng chất thải xây dựng. Ví dụ, gạch và bê tông sản xuất từ tro bay hoặc chất thải công nghiệp không chỉ giảm lượng chất thải mà còn giảm nhu cầu về nguyên liệu thô, giảm thiểu sự khai thác tài nguyên thiên nhiên. Việc sử dụng các vật liệu này giúp giảm lượng khí CO2 phát thải trong quá trình sản xuất và xây dựng, đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

Ngoài việc giảm phát thải khí nhà kính, vật liệu xây dựng xanh cũng giúp nâng cao hiệu quả năng lượng trong các công trình xây dựng. Các vật liệu như cách nhiệt hiệu suất cao và lớp phủ phản xạ nhiệt giúp giảm nhu cầu sử dụng năng lượng cho hệ thống điều hòa không khí và sưởi ấm, từ đó giảm lượng khí thải carbon liên quan đến tiêu thụ năng lượng. Việc tích hợp các giải pháp này trong xây dựng không chỉ giúp giảm mức tiêu thụ năng lượng mà còn hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.

Như vậy, việc áp dụng vật liệu xây dựng xanh là một bước quan trọng để Việt Nam giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới mục tiêu trung hòa carbon. Những vật liệu này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả môi trường trong ngành xây dựng mà còn đóng góp vào nỗ lực chung của quốc gia trong việc bảo vệ trái đất cho các thế hệ tương lai.

Tín chỉ carbon trong ngành vật liệu xây dựng có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để thúc đẩy phát triển bền vững. Các công ty sản xuất vật liệu xây dựng có thể thu mua tín chỉ carbon để bù đắp cho lượng phát thải CO2 trong quá trình sản xuất của họ. Đồng thời, các dự án xây dựng có thể sử dụng tín chỉ carbon như một phần của chiến lược bù đắp khí nhà kính trong khi thực hiện các cải tiến công nghệ và quy trình để giảm phát thải. Ví dụ, các dự án xây dựng với công nghệ xanh như bê tông nhựa Carboncor Asphalt (CA) có thể kiếm được tín chỉ carbon thông qua việc giảm phát thải so với các vật liệu truyền thống.

Việc áp dụng tín chỉ carbon trong ngành vật liệu xây dựng không chỉ giúp các công ty và dự án đạt được các mục tiêu giảm phát thải mà còn tạo ra động lực cho việc phát triển và áp dụng công nghệ xanh. Tín chỉ carbon có thể làm tăng giá trị thương hiệu và sự cạnh tranh của các công ty trong thị trường xây dựng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các khoản đầu tư vào các giải pháp bền vững. Hơn nữa, việc mua và sử dụng tín chỉ carbon có thể hỗ trợ các dự án bảo vệ môi trường, như trồng rừng hoặc cải tạo đất, giúp cân bằng tác động môi trường từ ngành xây dựng.

Ảnh minh họa
Carboncor Asphalt đã được sử dụng rộng rãi trên toàn quốc trong các dự án nâng cấp và cải tạo đường giao thông.

Để quản lý và giám sát việc sử dụng tín chỉ carbon hiệu quả, các tiêu chuẩn và quy định cần được thiết lập rõ ràng. Việc công nhận và chứng nhận tín chỉ carbon phải dựa trên các phương pháp đo lường và kiểm tra đáng tin cậy để đảm bảo tính chính xác và minh bạch. Các cơ quan quản lý và tổ chức chứng nhận phải làm việc chặt chẽ với các bên liên quan trong ngành xây dựng để xây dựng hệ thống tín chỉ carbon hiệu quả, đồng thời thúc đẩy việc áp dụng các công nghệ và vật liệu giảm phát thải.

Việt Nam đã áp dụng CA trong nhiều dự án từ năm 2008 và chính thức cấp phép vào năm 2009. CA đã được sử dụng rộng rãi trên toàn quốc trong các dự án nâng cấp và cải tạo đường giao thông. Kết quả khảo sát cho thấy, mặt đường CA duy trì độ bằng phẳng tốt, độ nhám đồng đều, và không có hiện tượng hư hỏng đáng kể. Tuy nhiên, cần nghiên cứu thêm các tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của các công trình sử dụng CA.

Carboncor Asphalt góp phần vào cam kết của Việt Nam đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050

Carboncor Asphalt (CA) là một loại bê tông nhựa đặc biệt được sản xuất và thi công ở nhiệt độ thường, mang lại nhiều lợi ích về môi trường. Công nghệ CA được coi là giải pháp xanh, thân thiện với môi trường nhờ khả năng giảm phát thải khí nhà kính. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Giao thông Vận tải năm 2024, tổng phát thải khí nhà kính của CA chỉ đạt 11,7 kg CO2-eq/tấn bê tông, giảm tới 71,8% so với bê tông nhựa nóng (BTNN), với mức phát thải lên tới 41,5 kg CO2-eq/tấn bê tông. Hơn nữa, mức tiêu thụ năng lượng của CA là 111,5 MJ/tấn bê tông, giảm 78,4% so với 516,6 MJ/tấn bê tông của BTNN. Những số liệu này cho thấy, CA là một giải pháp hiệu quả trong việc giảm phát thải khí nhà kính, góp phần vào cam kết của Việt Nam đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, như đã được nêu tại Hội nghị COP26 và khẳng định tiếp tục tại COP28.

Theo đó, Carboncor Asphalt đã được thử nghiệm thành công tại Việt Nam từ năm 2008 và được Bộ Giao thông Vận tải chính thức cấp phép vào năm 2009. Đến năm 2014, Tổng Cục Đường bộ Việt Nam đã ban hành TCCS 09:2014 về thi công và nghiệm thu lớp CA trong xây dựng và sửa chữa kết cấu áo đường ô tô. Kể từ đó, CA đã được áp dụng rộng rãi ở ba miền Bắc, Trung, Nam và cả đảo Cô Tô. Nó đã được sử dụng cho các dự án nâng cấp, cải tạo và làm mới đường từ quốc lộ, tỉnh lộ đến các tuyến đường huyện và liên xã.

Ảnh minh họa
Kết quả khảo sát chất lượng tiêu thụ và phát thải nhà kính của bê tông Carboncor Asphalt và bê tông nhựa (Ảnh: Phan Chính)

Mặc dù CA đã được sử dụng rộng rãi, các tiêu chuẩn hiện hành vẫn chưa bao gồm các kết cấu điển hình và thông số lớp vật liệu CA. Do đó, việc nghiên cứu để xác định các thông số vật liệu CA phục vụ thiết kế kết cấu áo đường mềm theo TCCS 38 và TCCS 37 là cần thiết. Điển hình như, mặt đường các dự án sử dụng CA ở cả ba miền và đảo Cô Tô, từ đó đề xuất các kết cấu điển hình cho việc sử dụng CA tại Việt Nam.

Trong hơn một thập kỷ qua, vật liệu Carboncor Asphalt (CA) đã được áp dụng cho trên 1.100 công trình, với tổng chiều dài vượt 2.000 km trên toàn quốc, từ Bắc vào Nam. Để đánh giá hiệu quả thực tế của các dự án sử dụng CA, vào năm 2023, Công ty cổ phần Carboncor Việt Nam phối hợp với các Chủ đầu tư, Phòng Thí nghiệm trọng điểm đường bộ I – Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải, cùng nhóm nghiên cứu, tiến hành khảo sát các dự án tại cả ba miền Bắc, Trung và Nam. Các tuyến đường được khảo sát bao gồm huyện đảo Cô Tô và đường tỉnh 329 ở Quảng Ninh (miền Bắc), các tuyến đường tại Nghệ An và Hà Tĩnh (miền Trung), cùng với các tuyến tại Đồng Nai và Bến Tre (miền Nam).

Đại diện Công ty cổ phần Carboncor Việt Nam cho biết, công tác đánh giá thực hiện bao gồm nhiều phương diện để kiểm tra chất lượng mặt đường CA. Cụ thể, nhóm khảo sát đã tiến hành nhận xét và đánh giá tình trạng chung của mặt đường, xác định các dạng hư hỏng nếu có. Các chỉ tiêu kỹ thuật được kiểm tra bao gồm đo độ bằng phẳng mặt đường bằng thước 3 m theo TCVN 8864:2011, đo độ nhám mặt đường bằng phương pháp rắc cát và con lắc Anh theo các tiêu chuẩn TCVN 8866:2011 và ASTM E303, và đo vệt hằn lún bánh xe bằng thước thép 3m nếu có.

“Kết quả khảo sát hiện trạng mặt đường tại các dự án sử dụng vật liệu Carboncor Asphalt (CA) sau thời gian khai thác từ 1 đến 12 năm cho thấy bề mặt áo đường vẫn duy trì độ bằng phẳng ổn định, với các chỉ số đo độ bằng phẳng bằng thước 3m đều đạt yêu cầu. Kết cấu áo đường tỏ ra ổn định với độ nhám bề mặt đồng đều, và cả phương pháp rắc cát lẫn phương pháp con lắc Anh đều cho kết quả đạt tiêu chuẩn, đảm bảo các điều kiện khai thác”, vị đại diện này chia sẻ.

Ngoài ra, không có hiện tượng xô dồn, bong bật vật liệu, hay hằn lún vệt bánh xe trên các tuyến đường sử dụng CA. Dính bám giữa lớp vật liệu CA và lớp mặt dưới (bao gồm cả lớp bê tông xi măng) được đánh giá là khá tốt. Tuy nhiên, tại các dự án có lớp CA trên bê tông xi măng cũ, sau từ 1 đến 6 năm khai thác, xuất hiện nứt phản ánh tại các vị trí khe co giãn của mặt đường bê tông xi măng.

Phan Chính

Thị trường carbon Việt Nam: Từ quyền phát thải đến tài sản xanh
15/09/2026 20:49

TP. Hồ Chí Minh mở rộng dư địa cho kinh tế carbon thấp
03/09/2026 16:46

Khi hãng hàng không lên núi trồng rừng, bước xuống ruộng lúa
28/07/2026 11:14

Thị trường carbon ASEAN có thể đạt doanh thu 3.000 tỷ USD vào năm 2050
10/12/2024 13:32

Bà Rịa- Vũng Tàu: Sản phẩm OCOP góp phần nâng cao cuộc sống người dân nông thôn
17/10/2024 09:09

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIV: Carboncor Asphalt - Giải pháp hiệu quả để Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0
26/08/2024 16:08

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIII: Tạo cầu nối chính sách và chiến lược cho thị trường tín chỉ carbon
21/08/2024 16:15

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXII: Đào tạo nguồn nhân lực nhiệm vụ chiến lược cấp bách cho thị trường tín chỉ carbon
19/08/2024 09:04

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXI: Vai trò quan trọng của các Khu Dự trữ Sinh quyển trong việc tích tụ carbon và hấp thụ CO2
11/08/2024 08:40

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XX: Thị trường tín chỉ carbon mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích đáng kể
08/08/2024 16:25

Tin bài khác
Hải Phòng dựng “lá chắn” an toàn thực phẩm từ gốc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Hải Phòng dựng “lá chắn” an toàn thực phẩm từ gốc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Hải Phòng đang siết chặt quản lý an toàn thực phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe người dân, quyền lợi người tiêu dùng và những thương hiệu ẩm thực truyền thống của thành phố.
ADB nâng dự báo GDP Việt Nam, cảnh báo áp lực lạm phát và tín dụng

ADB nâng dự báo GDP Việt Nam, cảnh báo áp lực lạm phát và tín dụng

Đà tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm giúp Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng dự báo GDP Việt Nam năm 2026 lên 7,8%, cao hơn đáng kể mức 7,2% trong dự báo tháng 7. Tuy nhiên, cùng với triển vọng tích cực, ADB lưu ý những sức ép mới từ lạm phát, tỷ giá và tăng trưởng tín dụng.
Điện Biên tìm đối tác Trung Quốc phát triển hạ tầng, logistics, thể thao và nghỉ dưỡng

Điện Biên tìm đối tác Trung Quốc phát triển hạ tầng, logistics, thể thao và nghỉ dưỡng

Điện Biên đang chủ động mở rộng kết nối với cộng đồng doanh nghiệp Trung Quốc, hướng tới các dự án có khả năng tạo chuỗi giá trị và khai thác lợi thế của một tỉnh biên giới. Tại buổi làm việc với Hội đồng Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc, lãnh đạo tỉnh nêu rõ nhu cầu tìm đối tác trong phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp; kinh tế cửa khẩu; logistics; chế biến nông, lâm sản; thể thao và nghỉ dưỡng.
Trí tuệ nhân tạo tăng tốc, lưới điện có theo kịp?

Trí tuệ nhân tạo tăng tốc, lưới điện có theo kịp?

Một cú nhấp chuột xem web, vài câu lệnh cho ChatGPT hay Gemini… tưởng chừng chẳng hề hấn gì đến lưới điện. Nhưng phía sau mỗi câu trả lời của AI là những máy chủ, trung tâm dữ liệu ngốn điện liên tục. Hàng triệu cú nhấp chuột đang tạo nên một loại phụ tải mới.
Việt Nam và Liên Hợp Quốc mở khuôn khổ hợp tác mới giai đoạn 2027-2031

Việt Nam và Liên Hợp Quốc mở khuôn khổ hợp tác mới giai đoạn 2027-2031

Chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác tại New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đối tác Liên Hợp Quốc mở ra khuôn khổ hợp tác mới giai đoạn 2027-2031, hướng trọng tâm vào phát triển bền vững, chuyển đổi số, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển con người và quản trị.
Cải cách tiền lương trước yêu cầu thích ứng với thị trường lao động và già hóa dân số

Cải cách tiền lương trước yêu cầu thích ứng với thị trường lao động và già hóa dân số

Thị trường lao động biến đổi nhanh, cơ cấu việc làm thay đổi, dân số bước vào giai đoạn già hóa và các hình thức việc làm mới xuất hiện đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội theo hướng linh hoạt, bao trùm và bền vững hơn. Đây là những nội dung được đặt ra trong quá trình xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Hơn 255.000 tỷ đồng vốn giao thông chịu áp lực giải ngân

Hơn 255.000 tỷ đồng vốn giao thông chịu áp lực giải ngân

Đến hết tháng 8/2026, các dự án trọng điểm giao thông mới giải ngân 38% kế hoạch vốn. Chính phủ yêu cầu rà soát từng dự án, xử lý điểm nghẽn và điều chuyển vốn nếu không còn khả năng giải ngân đúng tiến độ.
TP. Hồ Chí Minh chuyển từ thu hút dự án sang triển khai đầu tư thực chất

TP. Hồ Chí Minh chuyển từ thu hút dự án sang triển khai đầu tư thực chất

Sau 9 tháng, nhiều chỉ số kinh tế của TP. Hồ Chí Minh tăng mạnh, nhưng áp lực tăng trưởng vẫn dồn vào quý cuối năm. Thành phố đang đặt trọng tâm vào một hướng đi khác: không chỉ thu hút nguồn lực mà phải đưa nguồn lực vào dự án, sản xuất và kinh doanh.
Không gian mới mở đường cho những cực tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh

Không gian mới mở đường cho những cực tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh

Sau khi mở rộng không gian phát triển, TP. Hồ Chí Minh đang định hình một cấu trúc kinh tế không còn tập trung vào một lõi đô thị duy nhất. Năm cực động lực, các trung tâm vệ tinh và những hành lang liên kết được đặt trong cùng một bài toán: mở thêm dư địa cho dòng vốn và các ngành kinh tế mới.
Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho phát triển kinh tế biển, qua đó mở rộng khả năng huy động nguồn lực đầu tư, nhưng vẫn phải bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, sinh thái và quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

UBND TP. Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức tại xã Bình Giã với quy mô 32 ha và tổng vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng. Dự án được kỳ vọng góp phần hoàn thiện hạ tầng công nghiệp, thu hút doanh nghiệp sản xuất, đồng thời hỗ trợ di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư.
Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hoan nghênh những tiến triển tích cực trong đàm phán, hướng tới sớm ký kết Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng, tạo khuôn khổ ổn định, lâu dài cho quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, logistics không còn đơn thuần là dịch vụ hỗ trợ mà đang trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là thông điệp nổi bật được đưa ra tại Diễn đàn Logistics Vùng lần thứ 7 năm 2026 diễn ra tại Hải Phòng.
ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

Trước những bất ổn địa chính trị, thương mại và năng lượng ngày càng gia tăng, ASEAN - Nhật Bản đang mở rộng hợp tác nhằm củng cố khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sức chống chịu cho nền kinh tế khu vực.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Đề án hiện đại hóa hệ thống ngân hàng đến năm 2030 là định hướng mở rộng cách đánh giá doanh nghiệp khi cấp tín dụng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn vay có thể được xem xét dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất kinh doanh, dòng tiền và dữ liệu thanh toán, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tài sản bảo đảm.