Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trong 9 tháng năm 2026. Theo giá hiện hành, tổng vốn đầu tư thực hiện trong quý III ước đạt 1.291,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, vốn khu vực Nhà nước đạt 416,6 nghìn tỷ đồng, tăng 19,9%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 671,3 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 203,3 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao hơn mức 11,6% của cùng kỳ 9 tháng năm 2025.
![]() |
| Tổng vốn đầu tư thực hiện ngoài xã hội 9 tháng. Nguồn Cục Thống kê |
Xét theo khu vực kinh tế, vốn đầu tư khu vực Nhà nước đạt 931 nghìn tỷ đồng, chiếm 30% tổng vốn và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.649,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 53%, tăng 14%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 529,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 17%, tăng 14,5%.
Trong khu vực Nhà nước, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trong 9 tháng ước đạt 661,8 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9% kế hoạch năm và tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Cùng kỳ năm 2025, tỷ lệ thực hiện đạt 54,6% kế hoạch và tăng 29,2%.
Theo cấp quản lý, vốn Trung ương đạt gần 97 nghìn tỷ đồng, bằng 60,2% kế hoạch năm và tăng 9,1% so với cùng kỳ. Vốn địa phương đạt 564,8 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9% kế hoạch và tăng 20,9%.
Trong nguồn vốn địa phương quản lý, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 455,3 nghìn tỷ đồng, bằng 61% kế hoạch và tăng 19,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 109,5 nghìn tỷ đồng, bằng 55,4% kế hoạch và tăng 27,4%.
Tính đến ngày 30/9/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, vốn đăng ký cấp mới ghi nhận 3.108 dự án được cấp phép với tổng số vốn 29,24 tỷ USD, tăng 6,2% về số dự án và gấp 2,4 lần về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước.
Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực thu hút lượng vốn cấp mới lớn nhất, với 13,38 tỷ USD, chiếm 45,8% tổng vốn đăng ký cấp mới. Tiếp đến là vận tải, kho bãi với 5,14 tỷ USD, chiếm 17,6%; các ngành còn lại đạt 10,71 tỷ USD, chiếm 36,6%.
Trong số 79 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án được cấp phép mới tại Việt Nam trong 9 tháng, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 9,26 tỷ USD, chiếm 31,7% tổng vốn đăng ký cấp mới.
![]() |
| Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 9 tháng. Nguồn Cục Thống kê |
Tiếp theo là Hàn Quốc với 5,70 tỷ USD, chiếm 19,5%; Luxembourg 4,99 tỷ USD, chiếm 17,1%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) 3,01 tỷ USD, chiếm 10,3%; Trung Quốc 2,27 tỷ USD, chiếm 7,8%; Nhật Bản 1,56 tỷ USD, chiếm 5,3%; Hà Lan 438,5 triệu USD, chiếm 1,5%.
Đối với vốn đăng ký điều chỉnh, có 948 lượt dự án đã được cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 14,15 tỷ USD, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước.
Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước, vốn FDI đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 21,82 tỷ USD, chiếm 50,3% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm.
Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đạt 6,94 tỷ USD, chiếm 16%; các ngành còn lại đạt 14,63 tỷ USD, chiếm 33,7%.
Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong 9 tháng đạt 6,97 tỷ USD, thông qua 2.335 lượt góp vốn, mua cổ phần, tăng 44% so với cùng kỳ năm trước.
Trong số này, có 725 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp, với giá trị 2,64 tỷ USD; 1.610 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước nhưng không làm tăng vốn điều lệ, với giá trị 4,33 tỷ USD.
Xét theo lĩnh vực, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ thu hút 2,75 tỷ USD, chiếm 39,5% tổng giá trị góp vốn, mua cổ phần. Hoạt động bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 2,02 tỷ USD, chiếm 28,9%; các ngành còn lại đạt 2,20 tỷ USD, chiếm 31,6%.
Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Trong tổng vốn FDI thực hiện, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 17,40 tỷ USD, chiếm tới 82,6%; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,59 tỷ USD, chiếm 7,5%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 723,4 triệu USD, chiếm 3,4%.
Ở chiều ngược lại, hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng ghi nhận mức tăng đáng kể.
Trong 9 tháng năm 2026, có 121 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư, với tổng vốn của phía Việt Nam đạt 1,28 tỷ USD, tăng 80,9% so với cùng kỳ năm trước. Đồng thời, có 32 lượt dự án điều chỉnh vốn, với số vốn điều chỉnh tăng thêm 1,49 tỷ USD, gấp 10,8 lần cùng kỳ.
Tính chung, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, gồm vốn cấp mới và vốn điều chỉnh, đạt 2,77 tỷ USD, gấp 3,3 lần so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải, kho bãi dẫn đầu với 602,4 triệu USD, chiếm 21,7% tổng vốn đầu tư. Tiếp đến là sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí với 585,8 triệu USD, chiếm 21,1%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 516,6 triệu USD, chiếm 18,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 320,1 triệu USD, chiếm 11,5%.
Trong 9 tháng, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại 36 quốc gia và vùng lãnh thổ. Lào là điểm đến nhận lượng vốn đầu tư lớn nhất với 669 triệu USD, chiếm 24,1% tổng vốn đầu tư.
Tiếp theo là Campuchia với 486,5 triệu USD, chiếm 17,5%; Ấn Độ 357,2 triệu USD, chiếm 12,9%; Indonesia 340,2 triệu USD, chiếm 12,3%; Philippines 193,6 triệu USD, chiếm 7%; Kazakhstan 149,9 triệu USD, chiếm 5,4% và Hoa Kỳ 99,48 triệu USD, chiếm 3,6%.
Những con số trên cho thấy cả dòng vốn đầu tư vào Việt Nam và dòng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đều ghi nhận mức tăng đáng chú ý trong 9 tháng năm 2026, trong đó FDI thực hiện tại Việt Nam đạt mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.