Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026 do bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) trình bày, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao trong quý III, qua đó tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Trong quý III/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là quý thứ ba liên tiếp sản xuất công nghiệp duy trì mức tăng hai con số.
Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,8%; khai khoáng tăng 12,2%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, IIP ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn đáng kể mức tăng 9,0% của cùng kỳ năm 2025. Đây cũng là mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.
Động lực chính tiếp tục đến từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong 9 tháng, chỉ số sản xuất của ngành này tăng 12,9%, cao hơn mức tăng 10,3% của cùng kỳ năm 2025 và đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp.
Sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, ngành khai khoáng tăng 8,0%, trong khi cùng kỳ năm 2025 giảm 0,4%, đóng góp 1,3 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
![]() |
| Họp báo của Cục Thống kê thông tin về tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026 |
Đà tăng của sản xuất công nghiệp không chỉ tập trung ở một số ngành riêng lẻ mà được ghi nhận tại nhiều ngành công nghiệp trọng điểm.
Trong 9 tháng, sản xuất kim loại tăng mạnh nhất với 25,5%. Tiếp đến là sản xuất đồ uống tăng 17,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%.
Một số ngành khác cũng đạt mức tăng hai con số như sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác và chế biến thực phẩm cùng tăng 12,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 12,3%.
Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 10,7%; dệt tăng 10,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 10,1%.
Ở chiều ngược lại, một số ngành có mức tăng thấp hơn. Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3,4%; khai thác than cứng và than non chỉ tăng 0,1%.
Diễn biến 5 năm gần đây cho thấy nhiều ngành đã có sự cải thiện rõ nét trong năm 2026. Đáng chú ý, sản xuất kim loại tăng từ 12,2% năm 2025 lên 25,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng từ 8,1% lên 15,2%; sản xuất xe có động cơ đạt 15,3%, sau mức tăng 25,2% của năm 2025.
Trong khi đó, khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên chuyển từ mức giảm 4,9% năm 2025 sang tăng 10,7% trong năm nay; sản xuất đồ uống tăng từ 3,3% lên 17,4%.
Một điểm đáng chú ý trong bức tranh sản xuất công nghiệp 9 tháng là IIP tăng ở cả 34 địa phương.
Theo báo cáo, tại một số địa phương, tăng trưởng công nghiệp được hỗ trợ đáng kể bởi ngành chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện.
Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, Hà Tĩnh tăng 40,0%; Quảng Ninh tăng 33,6%; Bắc Ninh tăng 29,3%; Nghệ An tăng 25,8% và Thái Nguyên tăng 23,7%.
Ở ngành sản xuất và phân phối điện, Quảng Trị tăng tới 109,0%; Hà Tĩnh tăng 49,5%; Hưng Yên tăng 15,3% và Phú Thọ tăng 13,0%.
Tuy nhiên, mức tăng IIP giữa các địa phương có sự khác biệt đáng kể. Một số địa phương ghi nhận mức tăng thấp hơn do sản xuất chế biến, chế tạo, khai khoáng hoặc sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Trong đó, chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo tại Lạng Sơn tăng 2,3%, Đà Nẵng giảm 1,5%. Đối với sản xuất và phân phối điện, TP. Hồ Chí Minh tăng 5,1%, Lai Châu tăng 3,6%, trong khi Sơn La giảm 1,4%.
Ở ngành khai khoáng, Đà Nẵng giảm 70,4%; Lào Cai giảm 8,8% và Khánh Hòa giảm 4,3%.
Những diễn biến này cho thấy cơ cấu và động lực tăng trưởng công nghiệp giữa các địa phương vẫn có sự khác biệt, phụ thuộc đáng kể vào đặc điểm ngành sản xuất chủ lực của từng địa bàn.
![]() |
| Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019 |
Cùng với sự gia tăng của IIP, sản lượng nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực cũng tăng khá so với cùng kỳ.
Trong 9 tháng năm 2026, máy tính bảng tăng 36,5%; xe máy tăng 28,1%; máy tính xách tay tăng 26,2%; ô tô tăng 24,8%; thép cán tăng 22,4%; thủy hải sản chế biến tăng 21,9%.
Một số sản phẩm khác cũng ghi nhận mức tăng đáng kể như đường kính tăng 18,8%; thép thanh, thép góc tăng 17,1%; bia tăng 14,7%; sắt, thép thô tăng 13,3% và thức ăn cho thủy sản tăng 12,0%.
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm sản lượng so với cùng kỳ, gồm bột ngọt giảm 7,7%; phân hỗn hợp NPK giảm 7,1%; khí hóa lỏng LPG và giày, dép da cùng giảm 3,9%.
Không chỉ tăng về sản lượng, sức tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng duy trì xu hướng tích cực.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9 giảm 0,5% so với tháng trước nhưng tăng mạnh 17,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng 9,1% của cùng kỳ năm trước.
Trong khi đó, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/9/2026 ước tăng 4,3% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng thời điểm năm trước.
Diễn biến giữa sản xuất, tiêu thụ và tồn kho cho thấy sản xuất công nghiệp tiếp tục được mở rộng, trong khi thị trường tiêu thụ duy trì mức tăng khá. Đây là những yếu tố quan trọng hỗ trợ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong những tháng cuối năm.
Đà phục hồi của sản xuất cũng được phản ánh qua thị trường lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp.
Tại thời điểm 1/9/2026, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,4% so với cùng thời điểm năm trước.
Trong đó, lao động tại các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm trước.
Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có số lao động tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,5% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 3,7% so với cùng thời điểm năm trước.
Trong khi đó, lao động ngành khai khoáng không đổi so với tháng trước và giảm 1,2% so với cùng thời điểm năm trước.
Với IIP 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019, cùng mức tăng hai con số của công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất công nghiệp đang tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế năm 2026. Cùng với đà tăng của tiêu thụ, sản lượng nhiều sản phẩm chủ lực và việc làm trong doanh nghiệp công nghiệp, những kết quả này tạo thêm dư địa để khu vực sản xuất duy trì đà tăng trưởng trong quý IV.