| Bài liên quan |
| ADB nâng dự báo GDP Việt Nam, cảnh báo áp lực lạm phát và tín dụng |
| Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam quý III tăng 8,7% |
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026 do bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) trình bày cho thấy, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trên hầu hết các ngành, lĩnh vực, bất chấp những biến động khó lường từ kinh tế thế giới.
Trong 9 tháng năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều yếu tố bất định, diễn biến nhanh và khó dự báo. Xung đột quân sự kéo dài tại Nga - U-crai-na và Trung Đông, cạnh tranh chiến lược gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ cùng những điều chỉnh về chính sách thương mại, tiền tệ của các nền kinh tế lớn tiếp tục tác động đến chuỗi cung ứng, nguồn cung năng lượng, giá nguyên, nhiên, vật liệu, chi phí vận tải và thương mại quốc tế.
Cùng với đó, áp lực lạm phát gia tăng trở lại trong khi nợ công toàn cầu ở mức cao. Thiên tai, biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan diễn biến phức tạp tại nhiều khu vực, gây thiệt hại về người và tài sản. An ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh mạng tiếp tục đặt ra nhiều thách thức.
Ở chiều ngược lại, làn sóng đầu tư vào hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ bán dẫn diễn ra mạnh mẽ, tạo thêm động lực hỗ trợ tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, các tổ chức quốc tế có những điều chỉnh khác nhau về triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026. OECD và Liên hợp quốc cùng điều chỉnh dự báo tăng trưởng cao hơn 0,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đó. Tuy nhiên, mức tăng dự kiến vẫn thấp hơn đáng kể so với năm 2025.
Cụ thể, OECD dự báo kinh tế thế giới năm 2026 tăng 2,9%, thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với năm 2025; Liên hợp quốc dự báo tăng 2,6%, thấp hơn 0,3 điểm phần trăm. Trong khi đó, IMF điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm dự báo tăng trưởng, xuống còn 3,0%. Đây là mức cao nhất trong các dự báo nêu trên nhưng vẫn thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với năm 2025.
Đối với khu vực Đông Nam Á, các tổ chức quốc tế đưa ra những dự báo khác nhau về tăng trưởng năm 2026 của từng nền kinh tế. Việt Nam được dự báo tăng trưởng trong khoảng 7,5-8,2%; Indonesia từ 5,0-5,2%; Malaysia từ 4,7-4,9%; Philippines từ 3,3-4,1%; Singapore từ 4,8-5,0% và Thái Lan từ 1,9-2,4%.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) trình bày báo cáo tại Họp báo. |
Trong nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026.
Việc hoàn thiện và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp góp phần mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên kết vùng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đồng thời thúc đẩy phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển.
Trong bối cảnh đó, GDP quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II.
Xét theo khu vực kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%, đóng góp 51,57%; khu vực dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%.
Ở góc độ sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng quý III tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 21,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 28,75%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, GDP ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất, sản lượng lúa, cây ăn quả, chăn nuôi và thủy sản tăng trưởng tích cực, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng tăng 4,02%. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,72%, đóng góp 3,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,99%, đóng góp 0,25%; ngành thủy sản tăng 4,99%, đóng góp 1,50%.
Đáng chú ý, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là khu vực đóng góp lớn vào tăng trưởng chung.
Theo Cục Thống kê, công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá nhờ các động lực tăng trưởng được mở rộng, một số dự án quy mô lớn đi vào hoạt động, đơn hàng xuất khẩu phục hồi và tiến độ đầu tư công được đẩy mạnh, tạo hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất và xây dựng.
Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2026 tăng 11,02% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 41,39% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.
Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu khi tăng 11,36%, đóng góp 33,85%. Ngành xây dựng tăng 12,22%, đóng góp 8,23%.
Kết quả này cho thấy khu vực sản xuất tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng trong 9 tháng, cùng với sự hỗ trợ từ đầu tư, xuất khẩu và các dự án có quy mô lớn.
![]() |
| Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là khu vực đóng góp lớn vào tăng trưởng chung. |
Khu vực dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, với sự đóng góp của thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ đời sống.
Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ và du lịch trong nước duy trì ở mức cao, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 9 tháng tăng 8,69% so với cùng kỳ năm trước.
Một số ngành có mức tăng và đóng góp đáng kể gồm vận tải, kho bãi tăng 11,03%, đóng góp 7,21%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,85%, đóng góp 11,99%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,45%, đóng góp 5,27%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,83%, đóng góp 2,69%.
Về cơ cấu nền kinh tế, trong 9 tháng năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,65%; công nghiệp và xây dựng chiếm 38,35%; dịch vụ chiếm 42,97%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,03%.
So với cùng kỳ năm 2025, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 11,33% xuống 10,65%; công nghiệp và xây dựng tăng từ 37,47% lên 38,35%; dịch vụ giảm nhẹ từ 43,05% xuống 42,97%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm từ 8,15% xuống 8,03%.
Ở góc độ sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng 9 tháng tăng 8,51% so với cùng kỳ năm 2025; tích lũy tài sản tăng 17,88%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 27,19%.
Tăng trưởng kinh tế 9 tháng cũng ghi nhận sự phân hóa giữa các địa phương.
Theo Cục Thống kê, có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng GRDP từ 10% trở lên. Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 12,54%, tiếp đến là Hà Tĩnh 12,36%, Hải Phòng 12,08%, Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có tốc độ tăng GRDP thấp hơn, gồm Sơn La 5,59%, Vĩnh Long 7,32%, Cà Mau 7,37% và Đồng Tháp 7,44%. Theo báo cáo, kết quả này có liên quan đến sự sụt giảm của sản xuất điện và tỷ trọng tương đối cao của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế tại các địa phương.
Nhìn chung, các địa phương có tốc độ tăng trưởng cao tập trung chủ yếu ở những nơi có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn, đồng thời được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và sự phát triển của khu vực dịch vụ.
Những kết quả đạt được trong 9 tháng năm 2026 tạo thêm nền tảng để các ngành, địa phương tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng trong những tháng cuối năm, trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn nhiều yếu tố bất định và các động lực tăng trưởng tiếp tục cần được củng cố.