| Nghị quyết 43/2026/NQ-CP gia hạn thuế xăng dầu đến hết năm 2026: Doanh nghiệp được tiếp sức, vì sao vẫn chưa thể yên tâm? |
Chính phủ tiếp tục duy trì một số chính sách thuế đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết năm 2026. Tuy nhiên, từ chính sách thuế đến chi phí sản xuất, cước vận chuyển và giá bán hàng hóa vẫn là một quãng đường dài. Với doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, vấn đề không chỉ là giá nhiên liệu tăng hay giảm, mà còn là khả năng kiểm soát phần chi phí biến động và phân chia lợi ích hợp lý trong chuỗi cung ứng.
Thuế được duy trì, nhưng giá nhiên liệu không đứng yên
Điều 1 Nghị quyết 43/2026/NQ-CP kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết 25/2026/NQ-CP và Nghị định 72/2026/NĐ-CP về thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng dầu.
Điều 2 tiếp tục gia hạn các quy định về thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng tại Nghị quyết 19/2026/QH16.
Chính sách này góp phần duy trì các điều kiện thuế đang được áp dụng. Nhưng sẽ là thiếu thận trọng nếu từ đó kết luận giá nhiên liệu chắc chắn giảm, kéo theo cước vận tải và giá hàng hóa đồng loạt đi xuống.
Giá nhiên liệu còn chịu tác động của thị trường quốc tế, tỷ giá, nguồn cung, chi phí kinh doanh và cơ chế điều hành.
Với doanh nghiệp, nguy cơ lớn nhất là lập kế hoạch tài chính dựa trên giả định giá xăng dầu ổn định chỉ vì chính sách thuế được kéo dài.
Một đơn vị vận tải ký hợp đồng giá cố định trong khi nhiên liệu chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí có thể rơi vào thế bị động nếu thị trường đảo chiều.
Doanh nghiệp cần phân biệt rõ ba yếu tố: mức thuế được áp dụng, giá nhiên liệu thực tế và chi phí vận hành của chính mình.
Chỉ khi tách bạch các yếu tố này, việc định giá sản phẩm, dịch vụ mới có cơ sở đáng tin cậy.
![]() |
| Nghị quyết 43/2026/NQ-CP Thuế xăng dầu được gia hạn: Vì sao doanh nghiệp vẫn gánh nặng chi phí, người tiêu dùng chưa chắc được lợi? |
Lợi ích chính sách đi qua nhiều tầng trung gian
Phạm vi gia hạn tại Điều 1 và Điều 2 Nghị quyết 43 liên quan trực tiếp đến một số sắc thuế đối với nhiên liệu, không quy định việc điều chỉnh giá bán của mọi hàng hóa, dịch vụ sử dụng nhiên liệu.
Tuy nhiên, tác động kinh tế có thể lan tỏa qua nhiều ngành.
Doanh nghiệp vận tải đường bộ chịu ảnh hưởng từ chi phí xăng, dầu; hoạt động hàng không chịu ảnh hưởng từ nhiên liệu bay; doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu lại chịu tác động thông qua cước vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm.
Nhưng lợi ích từ chính sách không nhất thiết được chuyển đến từng chủ thể theo cùng một tỷ lệ.
Một doanh nghiệp có hợp đồng vận tải kèm phụ phí nhiên liệu có thể điều chỉnh giá linh hoạt. Doanh nghiệp nhỏ ký hợp đồng trọn gói thường ít khả năng chuyển phần chi phí tăng thêm sang khách hàng.
Ở chiều ngược lại, khi chi phí nhiên liệu giảm, khách hàng có thể kỳ vọng giá dịch vụ giảm tương ứng. Tuy nhiên, tiền lương, phí cầu đường, khấu hao phương tiện và nhiều khoản chi khác vẫn tồn tại.
Vì vậy, yêu cầu hợp lý không phải là giảm giá bằng mọi cách, mà là minh bạch cấu trúc chi phí và có cơ chế điều chỉnh phù hợp.
Nếu hợp đồng không quy định rõ phương pháp xác định phụ phí nhiên liệu, tranh chấp thương mại có thể phát sinh khi các bên đánh giá khác nhau về mức tăng, giảm giá thành.
Hộ kinh doanh cần tránh nhầm lẫn chính sách thuế với quyền được hỗ trợ trực tiếp
Nghị quyết 43 không thiết lập một khoản trợ cấp nhiên liệu hoặc cơ chế hoàn trả chi phí xăng dầu riêng cho mọi hộ kinh doanh.
Đối với hộ vận chuyển hàng hóa, dịch vụ giao nhận, sản xuất nhỏ hoặc kinh doanh thương mại, tác động chủ yếu thể hiện qua giá mua nhiên liệu và chi phí dịch vụ đầu vào.
Bởi vậy, kỳ vọng được nhận một khoản hỗ trợ riêng theo Nghị quyết là không có căn cứ.
Việc cần làm thiết thực hơn là ghi chép lượng nhiên liệu tiêu thụ, xác định chi phí thực tế theo từng đơn hàng và lưu giữ chứng từ phù hợp.
Với doanh nghiệp, cũng cần phân biệt chính sách thuế giá trị gia tăng đối với những mặt hàng, khâu giao dịch được Nghị quyết 19 điều chỉnh với nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng của các hàng hóa, dịch vụ khác.
Không thể vì nhiên liệu thuộc diện áp dụng chính sách thuế đặc thù mà suy rộng toàn bộ dịch vụ vận tải hoặc sản phẩm sử dụng nhiên liệu sang cùng chế độ thuế.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, phân phối, việc áp dụng cần căn cứ đúng mặt hàng, công đoạn và văn bản pháp luật liên quan.
Điều doanh nghiệp cần không chỉ là ưu đãi, mà là khả năng dự báo
Nghị quyết 43 góp phần duy trì điều kiện chính sách thuế đến hết năm 2026, nhưng không bảo đảm giá nhiên liệu hoặc cước vận tải sẽ giảm theo một tỷ lệ nhất định.
Doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh cần theo dõi giá thực tế, minh bạch chi phí và rà soát điều khoản giá trong hợp đồng.
Một chính sách thuế có thể giảm bớt áp lực từ bên ngoài. Nhưng nếu thiếu dữ liệu chi phí và khả năng điều chỉnh linh hoạt, doanh nghiệp vẫn có thể đánh mất lợi nhuận ngay trong giai đoạn đang được hỗ trợ.
