| Nghị định 349/2026/NĐ-CP: “Luật chơi” mới trong lựa chọn nhà thầu – cơ hội rộng hơn, hậu kiểm chặt hơn |
Nghị định 349 không chỉ nới một số cơ chế lựa chọn nhà thầu. Ở chiều ngược lại, văn bản tăng rõ yêu cầu cập nhật dữ liệu thực hiện hợp đồng, quản lý nhà thầu phụ và giám sát thường xuyên. Với doanh nghiệp, rủi ro vì thế dịch chuyển từ “có trúng thầu hay không” sang “sau khi trúng thầu, có thực hiện đúng những gì đã cam kết hay không”.
![]() |
| Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Trúng thầu chưa phải đích đến – Hậu kiểm đi theo hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu |
Tiến độ hợp đồng và nhà thầu phụ phải để lại dấu vết trên hệ thống
Điều 3 Nghị định 349 sửa đổi khoản 2 Điều 35 Nghị định 214, yêu cầu chủ đầu tư cập nhật tiến độ thực tế khi hoàn thành các mốc hợp đồng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; đồng thời cập nhật thay đổi về danh sách, phạm vi công việc và tỷ lệ sử dụng nhà thầu phụ, nhà thầu phụ đặc biệt.
Điều 17 Nghị định 349, sửa đổi khoản 2 Điều 141, quy định khá chi tiết việc quản lý nhà thầu phụ. Nhà thầu chính vẫn phải chịu trách nhiệm về khối lượng, chất lượng, tiến độ của phần việc giao cho nhà thầu phụ; việc thay thế, bổ sung hoặc thay đổi phạm vi phải đáp ứng điều kiện và được chấp thuận theo quy định. Nghị-định-349-2026-NĐ-CP
Điểm đáng chú ý với SME là nhà cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư, phụ tùng, máy móc, thiết bị hoặc nhân sự không mặc nhiên bị coi là nhà thầu phụ theo điểm h khoản 2 Điều 141. Đây là ranh giới quan trọng khi thiết kế chuỗi cung ứng.
Giám sát chuyển từ đợt kiểm tra sang theo dõi thường xuyên
Điều 14 Nghị định 349 sửa đổi Điều 132 theo hướng cơ quan giám sát thường xuyên tiếp nhận dữ liệu từ Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, báo cáo của chủ đầu tư, kiến nghị, phản ánh và nguồn hợp pháp khác. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường ảnh hưởng cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả hoặc tiến độ, cơ quan giám sát có thể yêu cầu rà soát và khắc phục.
Với một số doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập không sử dụng ngân sách trong hoạt động lựa chọn nhà thầu thuộc phạm vi luật định, thông tin còn phải được cập nhật định kỳ hằng quý trên hệ thống.
Điều này làm giảm giá trị của kiểu quản trị “làm xong rồi mới hoàn thiện hồ sơ”. Dữ liệu tiến độ, nhà thầu phụ và thay đổi hợp đồng cần được ghi nhận ngay khi phát sinh.
Đặt hàng dịch vụ công: được “chạy trước” 90%, nhưng cuối cùng vẫn phải quyết toán
Một điểm đáng chú ý khác nằm tại Điều 22 và Điều 25 Nghị định 349 khi sửa đổi Nghị định 32/2019/NĐ-CP. Với nhiệm vụ đặt hàng cấp bách cần triển khai ngay trong lúc chờ ban hành đơn giá, giá đặt hàng, cơ quan, đơn vị có thể ký hợp đồng tối đa bằng 90% giá trị thực hiện năm gần nhất, hoặc 90% dự toán được giao nếu thực hiện lần đầu.
Tuy nhiên, khi giá chính thức được ban hành, hợp đồng phải được điều chỉnh, nghiệm thu, thanh lý; phần chênh lệch lớn hơn phải nộp lại ngân sách.
Với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công, con số 90% vì vậy là cơ chế giúp công việc không bị đình trệ, chứ không phải giá hợp đồng “chốt cứng”. Dòng tiền, lợi nhuận dự kiến và nghĩa vụ hoàn trả chênh lệch cần được tính ngay từ khi ký.
Nghị định 349 cho thấy một xu hướng quản lý khá rõ: thủ tục lựa chọn có thể linh hoạt hơn, nhưng dữ liệu hậu kiểm trở nên dày hơn. Doanh nghiệp muốn đi sâu vào thị trường mua sắm công phải quản trị cả vòng đời hợp đồng: từ giá chào, hồ sơ dự thầu, nhà thầu phụ, tiến độ đến nghĩa vụ công khai. Với SME và hộ kinh doanh, cơ hội tiếp cận thị trường mở ra lớn hơn, nhưng lợi thế lâu dài sẽ thuộc về những chủ thể có hồ sơ sạch, dữ liệu nhất quán và khả năng thực hiện đúng cam kết.