Lào Cai hội tụ nhiều điều kiện để phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, khám phá thiên nhiên và trải nghiệm văn hóa cộng đồng. Từ Fansipan, Sa Pa, Bắc Hà, Y Tý đến Mù Cang Chải, Nghĩa Lộ, Mường Lò và hồ Thác Bà, mỗi địa danh đều có những lợi thế riêng để hình thành sản phẩm du lịch đặc sắc.
Đặc biệt, sự hiện diện của 34 nhóm ngành dân tộc cùng hệ thống 60 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh ở cấp quốc gia và quốc tế tạo nên nguồn tài nguyên quý giá. Đây không chỉ là lợi thế về văn hóa mà còn là cơ sở để phát triển các sản phẩm dịch vụ có khả năng tạo doanh thu, từ lưu trú, ẩm thực, trải nghiệm bản địa đến sản xuất và tiêu thụ hàng hóa đặc sản.
Năm 2025, du lịch Lào Cai đón 10,51 triệu lượt khách, tổng thu đạt 46.500 tỷ đồng, mức chi tiêu bình quân khoảng 4,4 triệu đồng/lượt. Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu đón khoảng 17 triệu lượt khách, tổng thu 80.000 tỷ đồng, đóng góp trực tiếp khoảng 10-12% GRDP.
Những con số này cho thấy quy mô và vai trò ngày càng quan trọng của du lịch đối với nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, để tăng trưởng bền vững, Lào Cai không thể chỉ dựa vào việc thu hút thêm lượt khách mà cần nâng cao giá trị dịch vụ, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với chuyển đổi số. Thay vì chỉ tập trung xây dựng hình ảnh điểm đến trên các nền tảng trực tuyến, công nghệ cần trở thành công cụ giúp doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng, giới thiệu sản phẩm, tiếp nhận đặt dịch vụ, quản lý hoạt động kinh doanh và kết nối với các nhà cung cấp.
Một cơ sở lưu trú nhỏ tại Bắc Hà, một homestay ở Y Tý hay một hộ kinh doanh dịch vụ trải nghiệm tại Sa Pa đều có thể tiếp cận khách hàng ngoài địa bàn thông qua các nền tảng số. Khi thông tin về phòng nghỉ, giá dịch vụ, ẩm thực, lịch trình và trải nghiệm được cung cấp đầy đủ, minh bạch, khả năng tiếp cận và lựa chọn của du khách sẽ thuận lợi hơn.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là cơ hội quan trọng để giảm sự phụ thuộc vào các kênh trung gian, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Công nghệ cũng giúp cơ sở kinh doanh quản lý lượng khách, theo dõi doanh thu, kiểm soát chi phí và chủ động hơn trong kế hoạch phục vụ.
![]() |
| Đưa doanh nghiệp và người dân vào hệ sinh thái du lịch số Lào Cai. (Ảnh minh họa) |
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các chương trình chuyển đổi số của tỉnh, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai đang tập trung xây dựng hệ sinh thái du lịch số, chuẩn hóa dữ liệu về di sản, điểm đến, dịch vụ và doanh nghiệp; kết nối, khai thác các nền tảng hiện có phục vụ công tác quản lý, kinh doanh và nhu cầu của du khách.
Một trong những hướng triển khai quan trọng là số hóa di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh; phát triển bản đồ du lịch số, thuyết minh đa ngôn ngữ, mã QR và trải nghiệm thực tế ảo tại các điểm đến như Sa Pa, Bắc Hà, Y Tý, Mù Cang Chải, Nghĩa Lộ và hồ Thác Bà.
Cùng với đó, trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tư vấn lịch trình, giới thiệu điểm đến, phân tích thị hiếu khách hàng và chăm sóc du khách. Việc khai thác dữ liệu thị trường giúp doanh nghiệp nhận diện nhóm khách hàng mục tiêu, xây dựng sản phẩm phù hợp và chủ động điều chỉnh phương thức kinh doanh.
Tuy nhiên, hệ sinh thái du lịch số chỉ phát huy hiệu quả khi không bỏ lại phía sau những cơ sở kinh doanh quy mô nhỏ. Đây là lực lượng trực tiếp cung cấp nhiều dịch vụ thiết yếu, tạo nên sự đa dạng của sản phẩm du lịch và đóng góp vào sinh kế của cộng đồng.
Vì vậy, Lào Cai cần quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh tiếp cận những công cụ số đơn giản, chi phí hợp lý, dễ sử dụng. Các giải pháp như quản lý đặt phòng, thanh toán không dùng tiền mặt, bán hàng trực tuyến, quảng bá trên mạng xã hội và quản lý phản hồi của khách hàng cần được phổ biến rộng rãi.
Đặc biệt, cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp du lịch với các hợp tác xã nông nghiệp, cơ sở sản xuất đặc sản, làng nghề và hộ kinh doanh tại địa phương.
Chẳng hạn, một hành trình du lịch cộng đồng không chỉ có lưu trú và tham quan mà còn có thể kết nối với trải nghiệm sản xuất nông nghiệp, thưởng thức ẩm thực, tìm hiểu nghề thủ công và mua sản phẩm bản địa. Khi những dịch vụ này được giới thiệu, đặt mua và thanh toán thuận tiện trên nền tảng số, doanh thu du lịch sẽ không chỉ tập trung ở các cơ sở lưu trú lớn mà còn lan tỏa đến nhiều chủ thể kinh tế khác.
Đối với người dân vùng cao, chuyển đổi số mở thêm cơ hội đưa sản phẩm truyền thống ra thị trường. Những sản phẩm thổ cẩm, nông sản, dược liệu, đặc sản địa phương có thể được giới thiệu trực tiếp đến du khách và khách hàng ở các tỉnh, thành phố khác.
Quan trọng hơn, người dân cần được hỗ trợ kỹ năng xây dựng nội dung, chụp ảnh sản phẩm, giới thiệu văn hóa, giao tiếp với khách hàng và tổ chức hoạt động kinh doanh trực tuyến. Khi có đủ kiến thức và công cụ, cộng đồng không chỉ tham gia cung cấp dịch vụ mà còn có thể chủ động xây dựng, quản lý và phát triển sản phẩm du lịch của chính mình.
Theo định hướng đến năm 2030, Lào Cai phấn đấu 70% cơ sở du lịch sử dụng nền tảng số, tỷ trọng kinh tế số du lịch đạt tối thiểu 20%, tăng trưởng bình quân 25%/năm.
Để hiện thực hóa những mục tiêu này, tỉnh Lào Cai cần ưu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch thống nhất, bảo đảm thông tin về điểm đến, lưu trú, dịch vụ, sản phẩm và doanh nghiệp được cập nhật thường xuyên, có khả năng kết nối và khai thác hiệu quả.
Bên cạnh đầu tư hạ tầng công nghệ, việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các nền tảng dùng chung, đào tạo nhân lực và nâng cao kỹ năng số cho cộng đồng cần được coi là nhiệm vụ thiết thực. Đối với những hộ kinh doanh ở vùng sâu, vùng xa, việc tiếp cận công nghệ phải phù hợp với điều kiện hạ tầng, trình độ sử dụng và khả năng tài chính.
Một vấn đề khác là cần tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp du lịch và chính quyền địa phương. Việc chia sẻ dữ liệu, kết nối sản phẩm và tổ chức các chương trình quảng bá chung sẽ giúp giảm chi phí tiếp cận thị trường, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở kinh doanh nhỏ tham gia vào những chuỗi dịch vụ có quy mô lớn hơn.
Cùng với đó, cần chú trọng bảo vệ dữ liệu khách hàng, bảo đảm an toàn thông tin và nâng cao chất lượng dịch vụ. Công nghệ có thể giúp khách hàng tìm đến nhanh hơn, nhưng chính chất lượng trải nghiệm, sự thân thiện của người dân và giá trị văn hóa bản địa mới quyết định khả năng quay trở lại của du khách.
Vì vậy, hiệu quả chuyển đổi số du lịch cần được đánh giá bằng những kết quả cụ thể: doanh nghiệp có thêm khách hàng, doanh thu có tăng, chi phí kinh doanh có giảm, sản phẩm địa phương có thêm đầu ra và người dân có thêm thu nhập hay không.
Khi doanh nghiệp được tiếp sức bằng công nghệ, người dân chủ động tham gia thị trường và các sản phẩm bản địa được kết nối thành chuỗi giá trị, du lịch sẽ tạo ra sức lan tỏa rộng hơn đối với nền kinh tế địa phương.
Với lợi thế tài nguyên, văn hóa và định hướng phát triển kinh tế số, Lào Cai có cơ hội xây dựng hệ sinh thái du lịch trong đó doanh nghiệp là lực lượng tổ chức dịch vụ, người dân là chủ thể tạo ra sản phẩm, còn công nghệ đóng vai trò kết nối thị trường. Đây chính là nền tảng để khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch, nâng cao sức cạnh tranh và đưa lợi ích phát triển đến gần hơn với cộng đồng.
