Sáng 30/10, Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Lào Cai tổ chức hội nghị sơ kết công tác quý III, triển khai nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm quý IV/2026. Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Lào Cai đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận về hạ tầng viễn thông, xây dựng dữ liệu và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, những con số về tiến độ hoàn thành nhiệm vụ, kết nối dữ liệu và giải ngân kinh phí cũng cho thấy yêu cầu cấp thiết: chuyển từ việc triển khai các đầu việc sang bảo đảm sản phẩm công nghệ được sử dụng hiệu quả trong thực tế.
![]() |
| Quang cảnh hội nghị sơ kết công tác quý III, triển khai nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm quý IV năm 2026 do Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Lào Cai tổ chức |
Trong quý III/2026, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo tỉnh Lào Cai tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, gắn với vận hành chính quyền địa phương hai cấp, cải cách hành chính và thực hiện Đề án 06. Trách nhiệm của các cơ quan chủ trì, thời hạn hoàn thành và sản phẩm đầu ra từng bước được xác định cụ thể; công tác kiểm tra, đôn đốc được tăng cường.
Về hạ tầng số, toàn tỉnh có 5.164 trạm BTS, trong đó 632 trạm 5G; 99% số thôn có cáp quang, tỷ lệ phủ sóng 4G đạt 99,5%. Tình trạng trắng, lõm sóng đã được khắc phục tại 63/69 thôn. Mạng truyền số liệu chuyên dùng và mạng mật của Đảng, Chính phủ tiếp tục được triển khai, phục vụ hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Đối với một tỉnh miền núi có nhiều địa bàn vùng cao như Lào Cai, hạ tầng viễn thông không chỉ phục vụ liên lạc mà còn quyết định khả năng tiếp cận dịch vụ công, giáo dục trực tuyến, thương mại điện tử và các tiện ích số. Việc mở rộng vùng phủ sóng vì thế cần đi cùng chất lượng kết nối ổn định, thiết bị phù hợp và khả năng sử dụng của người dân tại từng địa bàn.
Cùng với hạ tầng, công tác chuẩn hóa dữ liệu được triển khai trên diện rộng. Chiến dịch 90 ngày xây dựng cơ sở dữ liệu được thực hiện tại 30/30 cơ quan cấp tỉnh và 99/99 xã, phường. Toàn tỉnh đã chuẩn hóa 3.015.306 thửa đất, đồng bộ với hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai. Tỷ lệ dữ liệu bảo hiểm xã hội được xác thực với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đạt 99,96%.
Những kết quả này tạo nền tảng để các cơ quan quản lý từng bước giảm việc xử lý hồ sơ thủ công, hạn chế yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có và nâng cao khả năng phối hợp giữa các hệ thống. Tuy nhiên, giá trị của dữ liệu không chỉ nằm ở số lượng được thu thập hay chuẩn hóa, mà còn ở mức độ chính xác, khả năng cập nhật và việc khai thác phục vụ những công việc cụ thể.
Nếu dữ liệu chưa được kết nối đầy đủ, các cơ quan vẫn phải xử lý thông tin phân tán, còn người dân và doanh nghiệp có thể tiếp tục mất thời gian khi thực hiện thủ tục. Vì vậy, giai đoạn tiếp theo cần chú trọng đưa dữ liệu vào quy trình nghiệp vụ, xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm cập nhật và đơn vị sử dụng, đồng thời bảo đảm an toàn thông tin.
Trong giải quyết thủ tục hành chính, Lào Cai đã tiếp nhận trực tuyến 217.863 hồ sơ, chiếm 96,71% tổng số hồ sơ phải giải quyết. Tỷ lệ hồ sơ được giải quyết trước hạn và đúng hạn đạt 98,81%. Đây là những kết quả tích cực trong quá trình số hóa hoạt động hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ.
Chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng cũng được đẩy mạnh. Sổ tay đảng viên điện tử có 97.425/114.927 đảng viên sử dụng thường xuyên, đạt 84,8%. Bốn thủ tục hành chính của Đảng được thực hiện chính thức trên môi trường điện tử từ ngày 1/8/2026.
Đáng chú ý, mô hình cabin hành chính công ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại xã Yên Bình đã hỗ trợ thành công 130 hồ sơ trực tuyến. Kết quả bước đầu cho thấy công nghệ có thể hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ công, nhất là khi được thiết kế phù hợp với nhu cầu sử dụng tại cơ sở.
Dù vậy, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao chưa phải là thước đo duy nhất cho chất lượng chuyển đổi số. Điều cần quan tâm hơn là người dân có dễ sử dụng dịch vụ hay không, thời gian xử lý có thực sự được rút ngắn, số lần phải bổ sung hồ sơ có giảm và cán bộ có giảm được khối lượng công việc thủ công hay không.
Với doanh nghiệp, một quy trình hành chính thuận tiện có thể giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại và nguồn lực nhân sự. Đối với hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất ở vùng xa, việc được hướng dẫn và hỗ trợ thực hiện thủ tục trên môi trường số còn góp phần giảm khoảng cách tiếp cận dịch vụ công giữa các địa bàn.
Bởi vậy, bên cạnh số lượng hồ sơ được tiếp nhận trực tuyến, các cơ quan cần đánh giá chất lượng trải nghiệm của người sử dụng, khả năng xử lý liên thông và mức độ ổn định của hệ thống. Những mô hình ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng cần được đánh giá dựa trên hiệu quả hỗ trợ thực tế, độ chính xác, khả năng xử lý tình huống và yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Bên cạnh kết quả đạt được, tiến độ xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu chưa đồng đều. Theo báo cáo tại hội nghị, đến đầu tháng 10/2026, trong 68 cơ sở dữ liệu được báo cáo, mới có 25 cơ sở dữ liệu có dữ liệu thực; trong 26 kết nối API, mới có 6 kết nối hoàn thành. Một số nền tảng dùng chung chậm tiến độ, trong khi cấp xã còn thiếu thiết bị, nhân lực chuyên môn và chất lượng kết nối mạng ở một số địa bàn vùng cao chưa đáp ứng yêu cầu.
Đáng lưu ý hơn là tiến độ giải ngân kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số. Đến ngày 21/10/2026, tỷ lệ giải ngân các nhiệm vụ chi thường xuyên chuyển tiếp đạt 26,2%; các nhiệm vụ mới đạt 0,7%.
Mức giải ngân này đặt ra yêu cầu phải rà soát cụ thể từng nhiệm vụ, từ khâu chuẩn bị hồ sơ đầu tư, thuê dịch vụ công nghệ thông tin đến tổ chức thực hiện và nghiệm thu sản phẩm. Khi thủ tục kéo dài, nhiệm vụ có nguy cơ chậm hoàn thành, ảnh hưởng đến khả năng đưa nền tảng công nghệ vào sử dụng trong thời gian kế hoạch.
Mặt khác, nếu danh mục dự án không được rà soát kỹ, nguy cơ trùng lặp nhiệm vụ và phân tán nguồn lực có thể làm giảm hiệu quả sử dụng ngân sách. Trong điều kiện nguồn lực cần được ưu tiên cho nhiều nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, mỗi khoản đầu tư cho chuyển đổi số cần được xem xét trên cơ sở nhu cầu thực tế, khả năng triển khai và lợi ích dự kiến mang lại.
Đây cũng là lý do việc đánh giá kết quả không thể chỉ dừng ở báo cáo tiến độ hoặc xác nhận hoàn thành theo thủ tục. Một nền tảng được xây dựng nhưng ít người sử dụng, một cơ sở dữ liệu chưa được cập nhật thường xuyên hoặc một hệ thống chưa kết nối với quy trình nghiệp vụ đều khó tạo ra giá trị tương xứng với nguồn lực đã đầu tư.
Để khắc phục tình trạng này, cần gắn trách nhiệm của cơ quan chủ trì với chất lượng sản phẩm, tiến độ khai thác và hiệu quả sử dụng. Việc điều chỉnh hoặc dừng các nhiệm vụ không còn phù hợp cũng cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá rõ tính cần thiết, tránh đầu tư dàn trải.
![]() |
| Ông Dương Quốc Huy - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh Lào Cai phát biểu kết luận hội nghị. |
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Dương Quốc Huy - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh Lào Cai ghi nhận kết quả triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, đồng thời yêu cầu các cấp, ngành và địa phương nghiêm túc khắc phục những hạn chế, tập trung xử lý các nhiệm vụ chậm tiến độ.
Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai nhấn mạnh, quý IV/2026 chỉ còn hai tháng, trong khi khối lượng công việc cần hoàn thành còn lớn. Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm về tiến độ và chất lượng sản phẩm của từng nhiệm vụ. Kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW sẽ được sử dụng làm căn cứ đánh giá, xếp loại tập thể và người đứng đầu cuối năm 2026.
Tỉnh Lào Cai yêu cầu chỉ xác nhận hoàn thành nhiệm vụ khi có sản phẩm cụ thể, kết quả thực chất và minh chứng kiểm chứng được. Các nền tảng số, cơ sở dữ liệu phải có người sử dụng, dữ liệu thực và bảo đảm an toàn thông tin; công tác báo cáo cần thống nhất về thời điểm, phạm vi và số liệu giữa các cơ quan, đơn vị.
Về tiến độ chuyên môn, tỉnh Lào Cai yêu cầu hoàn thành xây dựng kế hoạch, lộ trình số hóa tài liệu trước ngày 15/11/2026; khẩn trương rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, cập nhật vào Kho dữ liệu dùng chung và Cổng dữ liệu mở của tỉnh, phấn đấu hoàn thành trước ngày 30/11/2026.
Các cơ quan liên quan phải hoàn thành rà soát cơ sở dữ liệu, đề xuất khung kiến trúc công nghệ cho ba sản phẩm năm 2027 gồm Cửa khẩu xanh, Y tế chuyên ngành xanh và Du lịch xanh. Ứng dụng LaoCai-S cần được đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện để công bố trong tháng 12/2026; việc rà soát, điều chỉnh Khung kiến trúc số tỉnh Lào Cai phải hoàn thành trước ngày 31/12/2026.
Đối với chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung số hóa, tạo lập dữ liệu hồ sơ đảng viên điện tử, ưu tiên số hóa tài liệu mức độ 1, phấn đấu hoàn thành trước ngày 31/12/2026. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy chủ trì, đôn đốc chuẩn bị điều kiện để triển khai thí điểm giám sát trên dữ liệu số đối với công tác quản lý tài sản công và quỹ đất công ngay trong quý IV/2026.
Về nguồn lực tài chính, Đảng ủy UBND tỉnh Lào Cai chỉ đạo rà soát, điều chỉnh danh mục các dự án, nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026, hoàn thành trước ngày 5/11/2026. Yêu cầu đặt ra là tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ cấp thiết, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và hạn chế tình trạng đầu tư trùng lặp.
Hạ tầng số tiếp tục là một trong những nhiệm vụ cần ưu tiên. Tỉnh Lào Cai đặt mục tiêu xử lý dứt điểm sáu thôn chưa có sóng hoặc sóng di động yếu, kết nối Internet đến 17 điểm trường trong đầu tháng 12/2026; đồng thời đẩy nhanh tiến độ cấp điện cho các thôn chưa có điện lưới và triển khai 91 dự án cấp điện nông thôn theo cam kết.
Văn phòng UBND tỉnh Lào Cai được giao đánh giá hiệu quả thí điểm mô hình “Trợ lý Nhân dân” ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đề xuất phương án nhân rộng trước ngày 30/11/2026. Đối với hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, các sở, ngành liên quan chủ động chuẩn bị điều kiện kết nối, tìm kiếm đối tác tham gia Quỹ đầu tư mạo hiểm của tỉnh sau khi được thành lập; đồng thời phối hợp với Đại học Thái Nguyên hoàn thiện thủ tục, điều kiện thành lập Trung tâm đào tạo khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Đại học Thái Nguyên tại Lào Cai trong tháng 11/2026.
Riêng nhiệm vụ thí điểm tối thiểu ba gói mua sắm đối với sản phẩm, giải pháp từ kết quả khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo do Trung ương giao, Sở Khoa học và Công nghệ phải khẩn trương hoàn thành, cập nhật kết quả trên hệ thống theo dõi của Trung ương trước ngày 10/11/2026.
Những nhiệm vụ này cho thấy giai đoạn cuối năm không chỉ là thời điểm hoàn thành các chỉ tiêu đã giao, mà còn là dịp để tỉnh rà soát lại cách tổ chức thực hiện, lựa chọn thứ tự ưu tiên và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đưa dữ liệu vào vận hành, lấy hiệu quả làm thước đo vì thế không chỉ là yêu cầu đối với từng dự án công nghệ, mà còn là cách tiếp cận cần thiết trong quản trị và điều hành. Khi dữ liệu được cập nhật, các nền tảng được khai thác thường xuyên, thủ tục được xử lý thuận tiện và ngân sách được sử dụng đúng mục tiêu, chuyển đổi số mới thực sự tạo ra giá trị cho người dân, doanh nghiệp và sự phát triển của Lào Cai.
