Tại nhiều địa bàn vùng cao Lào Cai, sản xuất nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính của người dân. Hạn chế về vốn, kỹ thuật, phương thức tổ chức sản xuất và đầu ra khiến không ít hộ khó mở rộng quy mô, nâng cao giá trị nông sản. Trong điều kiện đó, các chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần bổ sung nguồn lực, hỗ trợ người dân chuyển đổi phương thức sản xuất và từng bước cải thiện sinh kế.
Theo số liệu được cung cấp, các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc chương trình giảm nghèo bền vững đã được triển khai tại nhiều địa bàn, với hơn 170 dự án, thu hút khoảng 6.100 hộ tham gia. Cùng với hỗ trợ sản xuất, hơn 66 lớp tập huấn được tổ chức, thu hút gần 1.800 lượt người tham gia, góp phần nâng cao kiến thức và kỹ năng phát triển kinh tế hộ.
Ở những nơi điều kiện sản xuất còn khó khăn, hỗ trợ con giống, cây giống, vật tư hoặc hướng dẫn kỹ thuật có thể giúp người dân giảm bớt chi phí ban đầu, mạnh dạn triển khai mô hình mới. Tuy nhiên, hỗ trợ đầu vào mới chỉ là bước khởi đầu. Hiệu quả thực sự phải được đánh giá bằng khả năng duy trì sản xuất, tạo thu nhập và giúp các hộ từng bước thoát khỏi tình trạng phụ thuộc vào trợ cấp.
Vì vậy, quá trình lựa chọn mô hình cần xuất phát từ điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất, năng lực của người dân và nhu cầu tiêu thụ. Một mô hình phù hợp không nhất thiết phải có quy mô lớn, mà quan trọng là người dân có thể làm chủ kỹ thuật, kiểm soát chi phí và duy trì được sản lượng sau khi dự án kết thúc.
![]() |
| Lào Cai: Đưa chính sách hỗ trợ sản xuất thành động lực phát triển kinh tế nông thôn |
Một trong những yêu cầu đặt ra đối với chính sách hỗ trợ sản xuất là chuyển từ cách làm riêng lẻ sang tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Khi người dân tự sản xuất, tự tìm đầu ra, nguy cơ gặp khó khăn về tiêu thụ và giá cả vẫn hiện hữu. Ngược lại, nếu có hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tham gia hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức thu mua và kết nối thị trường, sản phẩm sẽ có thêm cơ hội phát triển ổn định.
Lào Cai hiện có hơn 605 sản phẩm OCOP được thống kê tại 82 xã, phường, trong đó có 2 sản phẩm đạt 5 sao, 52 sản phẩm đạt 4 sao và 551 sản phẩm đạt 3 sao. Đây là nguồn lực đáng chú ý để phát triển sản phẩm đặc trưng, nâng giá trị nông sản và tạo thêm việc làm tại khu vực nông thôn.
Tuy nhiên, số lượng sản phẩm được công nhận không đồng nghĩa tất cả đều có thị trường ổn định. Để sản phẩm OCOP thực sự tạo thu nhập, chủ thể sản xuất cần quan tâm đến chất lượng đồng đều, bao bì, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn an toàn và khả năng đáp ứng đơn hàng. Hoạt động quảng bá cũng cần gắn với kênh phân phối cụ thể, thay vì chỉ tập trung vào việc hoàn thiện hồ sơ công nhận sản phẩm.
Các chương trình hỗ trợ vì thế cần khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia ngay từ khâu xây dựng phương án sản xuất. Khi đầu ra được tính toán từ đầu, người dân có cơ sở lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi, quy mô và lịch sản xuất phù hợp; nguồn vốn hỗ trợ cũng có cơ hội tạo ra giá trị lâu dài hơn.
Việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia không chỉ hướng tới hỗ trợ từng hộ, mà còn góp phần cải thiện các tiêu chí phát triển kinh tế nông thôn. Số liệu được cung cấp cho thấy trong tổng số 89 xã thuộc phạm vi thống kê, có 38 xã đạt tiêu chí thu nhập, 56 xã đạt tiêu chí lao động và 58 xã đạt tiêu chí tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế nông thôn.
Những kết quả này cho thấy phát triển sản xuất cần được đặt trong mối liên hệ với việc làm, thu nhập và năng lực tổ chức kinh tế ở cơ sở. Muốn nâng hiệu quả đầu tư, địa phương cần theo dõi không chỉ số dự án được phê duyệt hay số hộ nhận hỗ trợ, mà cả doanh thu, lợi nhuận, đầu ra sản phẩm và số mô hình còn hoạt động sau khi nguồn kinh phí kết thúc.
Cùng với đó, công tác tập huấn cần chuyển từ phổ biến kỹ thuật đơn thuần sang hướng dẫn quản trị sản xuất, tính toán chi phí, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường. Cán bộ cơ sở phải nắm được nhu cầu thực tế của từng nhóm hộ để lựa chọn phương án phù hợp, tránh triển khai theo phong trào hoặc áp dụng một mô hình cho những địa bàn có điều kiện khác nhau.
Nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia sẽ phát huy giá trị rõ hơn khi người dân có thể tự tổ chức sản xuất, hợp tác xã đủ năng lực liên kết và doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội đầu tư. Khi đó, hỗ trợ của Nhà nước không dừng ở việc giúp người dân bắt đầu một mô hình, mà trở thành nền tảng để kinh tế nông thôn Lào Cai phát triển ổn định và bền vững.
