Với lợi thế về sản xuất nông nghiệp, làng nghề truyền thống, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, kinh tế tập thể, hợp tác xã đang giữ vai trò ngày càng rõ nét trong tổ chức sản xuất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân Bắc Ninh.
Khung chính sách tiếp tục được hoàn thiện, tạo điều kiện để các hợp tác xã đổi mới mô hình hoạt động, nâng cao tính tự chủ và phát huy quyền, lợi ích của thành viên. Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2024 là một trong những nền tảng pháp lý quan trọng cho quá trình này. Cùng với đó, các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, nông nghiệp, nông thôn, làng nghề và xúc tiến thương mại tạo thêm cơ hội để hợp tác xã nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường.
Tại Bắc Ninh, Nghị quyết số 127/2025/NQ-HĐND ngày 26/12/2025 về một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn và làng nghề giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng góp phần thúc đẩy các mô hình sản xuất phù hợp với lợi thế địa phương.
Theo ông Phạm Minh Hiền, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã thành phố, khoảng 60% sản phẩm OCOP có chủ thể là hợp tác xã. Điều này cho thấy vai trò của khu vực kinh tế tập thể trong phát triển sản phẩm đặc trưng, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường.
Tuy nhiên, chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, cơ hội tiếp cận vốn, công nghệ và đầu ra ổn định cho các hợp tác xã. Đây cũng là điều kiện quan trọng để những mô hình có tiềm năng phát triển, thay vì chỉ dừng lại ở quy mô sản xuất nhỏ.
![]() |
| Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh Ngô Tân Phượng - Trưởng Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể thăm, làm việc tại Hợp tác xã Bình Minh, phường Hiệp Hòa. (Ảnh: Thành Nam) |
Theo số liệu được cung cấp, Bắc Ninh hiện có hơn 2.000 hợp tác xã với khoảng 108.000 thành viên, trong đó gần 1.700 hợp tác xã đang hoạt động. Toàn địa bàn còn có 6 liên hiệp hợp tác xã với 35 hợp tác xã thành viên và 525 tổ hợp tác.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, hơn 1.400 hợp tác xã đang thu hút gần 81.000 thành viên và khoảng 4.800 lao động thường xuyên. Khoảng 500 hợp tác xã tham gia liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; 100 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào các khâu sản xuất, chăm sóc và chăn nuôi.
Sự chuyển dịch này cho thấy hợp tác xã không còn chỉ đảm nhiệm các dịch vụ đầu vào mà đang từng bước tham gia sâu hơn vào quá trình tạo giá trị. Từ ứng dụng hệ thống tưới tự động, kiểm soát môi trường đến đầu tư thiết bị chế biến, đóng gói và truy xuất nguồn gốc, nhiều đơn vị đã chú trọng hơn đến chất lượng sản phẩm và yêu cầu của thị trường.
Đáng chú ý, 186 hợp tác xã sở hữu 373 sản phẩm OCOP được công nhận từ 3 sao trở lên theo số liệu trong tài liệu. Các sản phẩm gắn với lợi thế địa phương như vải thiều, na dai, dứa, gà đồi Yên Thế, mật ong và dược liệu góp phần đa dạng hóa nguồn thu, tạo cơ hội phát triển thương hiệu địa phương.
Ở khu vực phi nông nghiệp, 642 hợp tác xã hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương mại, dịch vụ, môi trường và điện. Sự đa dạng này cho thấy kinh tế tập thể có khả năng tham gia vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, không chỉ giới hạn trong sản xuất nông nghiệp.
Dù vậy, số lượng hợp tác xã lớn chưa đồng nghĩa với hiệu quả hoạt động đồng đều. Điều quan trọng là mỗi đơn vị phải xác định rõ lợi thế, nhu cầu của thành viên và phân khúc thị trường phù hợp để xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh có khả năng sinh lời.
Một trong những hướng chuyển biến đáng chú ý là việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất gắn với tổ chức lại quy trình và nâng cao giá trị sản phẩm.
Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Yên Thế là ví dụ về hướng phát triển từ sản phẩm thô sang chế biến sâu. Từ chỗ chủ yếu cung cấp gà lông và gà thịt đóng gói khi thành lập năm 2021, đơn vị đã mở rộng nhà xưởng, đầu tư dây chuyền giết mổ và phát triển các sản phẩm như gà cấp đông, giò, chả, xúc xích, gà ủ muối, khô gà và ruốc gà.
Việc đa dạng hóa sản phẩm giúp hợp tác xã có thêm cơ hội tiếp cận hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi và những kênh phân phối đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng cao hơn. Đây cũng là hướng đi cần thiết để nâng giá trị nông sản, giảm sự phụ thuộc vào tiêu thụ sản phẩm tươi và hạn chế rủi ro khi thị trường biến động.
Tại Hợp tác xã Tân Dân, phường Tân An, công nghệ được đưa vào chăn nuôi chim bồ câu Pháp theo hướng tuần hoàn. Hệ thống ấp trứng, trộn thức ăn, cung cấp nước và vệ sinh chuồng nuôi được tự động hóa, góp phần giảm công lao động và kiểm soát quy trình sản xuất.
Theo ông Vũ Văn Nghiên, Giám đốc Hợp tác xã Tân Dân, gia đình ông đang nuôi 9.000 đôi chim bố mẹ sinh sản, với công suất 4.000-6.000 con chim thương phẩm mỗi tháng; tổng thu nhập đạt 1-1,2 tỷ đồng/năm theo thông tin được cung cấp.
Những mô hình này cho thấy công nghệ có thể giúp hợp tác xã cải thiện năng suất, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Tuy nhiên, đầu tư thiết bị chỉ là một phần của quá trình đổi mới. Để duy trì hiệu quả lâu dài, các đơn vị còn cần đội ngũ quản lý có năng lực, phương án tài chính phù hợp, quy trình kiểm soát chất lượng và thị trường tiêu thụ ổn định.
![]() |
| Ông Vũ Văn Nghiên, Giám đốc Hợp tác xã Tân Dân, phường Tân An kiểm tra chim bồ cầu Pháp mới nở thông qua máy ấp trứng tuần hoàn. (Ảnh: Thành Nam) |
Bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực kinh tế tập thể tại Bắc Ninh vẫn còn những hợp tác xã hoạt động cầm chừng, quy mô nhỏ và hạn chế về năng lực quản trị. Đây là thách thức cần được nhìn nhận thẳng thắn khi đánh giá chất lượng phát triển của toàn khu vực.
Trước hết, cần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ thành lập mới sang củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã hiện có. Việc đánh giá cần dựa trên những tiêu chí cụ thể như khả năng duy trì sản xuất, thu nhập của thành viên, mức độ tạo việc làm, hiệu quả kinh doanh và khả năng thích ứng với thị trường.
Cùng với đó, cần nâng cao năng lực quản trị thông qua đào tạo, tư vấn xây dựng phương án kinh doanh, quản lý tài chính, ứng dụng công nghệ số và phát triển thị trường. Các chương trình hỗ trợ cần gắn với nhu cầu thực tế, tránh triển khai dàn trải hoặc đầu tư thiết bị nhưng thiếu phương án khai thác hiệu quả.
Liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, cơ sở chế biến, hệ thống phân phối và các sàn thương mại điện tử cũng cần được chú trọng. Khi có hợp đồng tiêu thụ rõ ràng, tiêu chuẩn sản phẩm cụ thể và cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch, hợp tác xã sẽ có cơ sở để chủ động kế hoạch sản xuất, giảm rủi ro và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị.
Đối với cơ quan quản lý, việc hoàn thiện cơ chế hỗ trợ cần đi đôi với cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đất đai, khoa học công nghệ và thông tin thị trường. Các mô hình hiệu quả cần được tổng kết, nhân rộng có chọn lọc, phù hợp với đặc điểm từng lĩnh vực và điều kiện của thành viên.
Về phía các hợp tác xã, yêu cầu đặt ra là phải thực sự lấy thành viên làm trung tâm, nâng cao tính minh bạch trong quản lý và chủ động đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh. Chỉ khi lợi ích của thành viên được bảo đảm, sản phẩm có đầu ra và hoạt động tạo ra giá trị kinh tế thực chất, mô hình hợp tác xã mới có thể phát triển bền vững.
Với nền tảng quy mô, sự đa dạng ngành nghề và những mô hình ứng dụng công nghệ đang hình thành, kinh tế tập thể Bắc Ninh có nhiều điều kiện để đóng góp tích cực hơn cho phát triển kinh tế - xã hội. Bước chuyển quan trọng trong giai đoạn tới không nằm ở việc có thêm bao nhiêu hợp tác xã, mà ở năng lực tạo giá trị, sức cạnh tranh và lợi ích thiết thực mà mỗi hợp tác xã mang lại cho thành viên và cộng đồng.
