Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai đang triển khai kế hoạch ứng dụng công nghệ mới để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến sâu dược liệu, cây trồng chủ lực. Đây là bước cụ thể hóa Kế hoạch số 467/KH-UBND ngày 1/10/2026 của UBND tỉnh, hướng tới đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản địa phương.
Theo định hướng này, dược liệu và cây quế là những nhóm sản phẩm được chú trọng tháo gỡ khó khăn trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, vùng trồng, quy trình canh tác đến chế biến, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ.
Thực tế, phát triển vùng nguyên liệu mới là bước đầu của quá trình nâng cao giá trị nông sản. Muốn sản phẩm có sức cạnh tranh ổn định, doanh nghiệp và hợp tác xã cần có nguồn nguyên liệu đạt chất lượng đồng đều, quy trình sản xuất được kiểm soát và công nghệ chế biến phù hợp với yêu cầu của thị trường.
Vì vậy, kế hoạch của ngành nông nghiệp đặt trọng tâm vào việc kết nối vùng trồng với cơ sở chế biến và hệ thống tiêu thụ. Cách tiếp cận này tạo điều kiện để khoa học, công nghệ tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, thay vì chỉ dừng lại ở việc chuyển giao kỹ thuật canh tác.
![]() |
| Lào Cai đưa công nghệ vào chuỗi giá trị dược liệu và cây trồng chủ lực. (Ảnh minh họa) |
Đối với cây quế, Lào Cai định hướng ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vùng trồng, nhận diện và cảnh báo sâu bệnh, hỗ trợ canh tác hữu cơ và từng bước hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc.
Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và thiết bị bay không người lái (drone) được định hướng tích hợp trên nền tảng số, phục vụ quản lý vùng nguyên liệu và cảnh báo dịch hại. Trong phạm vi thí điểm, công nghệ còn được nghiên cứu ứng dụng để đo đếm, tính toán khả năng hấp thụ các-bon.
Cùng với đó, ngành nông nghiệp triển khai cấp mã số rừng trồng, cập nhật dữ liệu vùng nguyên liệu quế, tạo cơ sở phục vụ quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc.
Việc đưa công nghệ vào quản lý vùng trồng có ý nghĩa đối với cả người sản xuất lẫn doanh nghiệp thu mua, chế biến. Dữ liệu về diện tích, quá trình canh tác và tình hình sâu bệnh có thể hỗ trợ nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng nguyên liệu, giảm rủi ro trong sản xuất và cải thiện tính minh bạch của chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, hiệu quả của chuyển đổi số phụ thuộc vào khả năng tổ chức dữ liệu, mức độ tham gia của người sản xuất và việc ứng dụng thực chất trong hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã. Công nghệ chỉ phát huy giá trị khi thông tin được cập nhật thường xuyên, dễ sử dụng và gắn với nhu cầu quản lý, sản xuất, tiêu thụ.
Đối với nhóm cây dược liệu, kế hoạch tập trung lựa chọn những loài có lợi thế, nâng cao chất lượng giống, hoàn thiện quy trình nhân giống và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người sản xuất.
Ngành nông nghiệp phối hợp với các đơn vị liên quan hỗ trợ chuẩn hóa 3 vùng nguyên liệu công nghệ cao, gắn với cấp mã số vùng trồng, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến và liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã.
Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu phát triển khoảng 100 ha cây dược liệu dưới tán rừng theo phương án được phê duyệt. Quá trình triển khai gắn với rà soát khu vực phù hợp, xác định chủ rừng có nhu cầu, hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ và tuân thủ các quy định về quản lý, bảo vệ rừng.
Định hướng này mở ra khả năng kết hợp phát triển sản xuất dược liệu với khai thác hợp lý tiềm năng đất đai, tài nguyên rừng. Tuy nhiên, việc lựa chọn loài cây, địa điểm và phương thức canh tác cần phù hợp với điều kiện sinh thái, yêu cầu bảo tồn và phương án quản lý rừng đã được phê duyệt.
Để vùng dược liệu phát triển bền vững, bên cạnh kỹ thuật trồng và chăm sóc, cần quan tâm đến chất lượng nguyên liệu sau thu hoạch, điều kiện bảo quản, tiêu chuẩn chế biến và đầu ra sản phẩm. Đây là những yếu tố quyết định khả năng duy trì vùng trồng cũng như hiệu quả kinh tế đối với người dân.
Một nội dung đáng chú ý của kế hoạch là khảo sát hiện trạng máy móc, dây chuyền và công nghệ tại các doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến dược liệu, quế và các cây trồng chủ lực.
Trên cơ sở nhu cầu thực tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với cơ quan khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để lựa chọn, đề xuất chuyển giao công nghệ phù hợp. Mục tiêu đến năm 2030 là công nghệ và quy trình chế biến dược liệu, chế biến quế được nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tại doanh nghiệp, hợp tác xã.
Định hướng này đặt ra yêu cầu chuyển từ sản xuất, sơ chế nguyên liệu sang nâng cao năng lực chế biến và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Đối với doanh nghiệp, đầu tư công nghệ cần xuất phát từ nhu cầu thị trường, khả năng cung ứng nguyên liệu và năng lực tài chính. Việc lựa chọn dây chuyền phù hợp, kiểm soát chất lượng đầu vào và xây dựng quy trình chế biến ổn định sẽ góp phần hạn chế rủi ro đầu tư, đồng thời nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng sản phẩm.
Bên cạnh chuyển giao công nghệ, sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện quy trình sản xuất. Công nghệ được lựa chọn cần phù hợp với đặc điểm nguyên liệu địa phương, quy mô cơ sở chế biến và khả năng mở rộng sản xuất khi thị trường phát triển.
Cùng với phát triển vùng nguyên liệu và chế biến, kế hoạch chú trọng xây dựng chuỗi liên kết giá trị, truy xuất nguồn gốc, logistics và thương mại hóa sản phẩm.
Các chuỗi liên kết ưu tiên tập trung vào dược liệu và quế, có doanh nghiệp dẫn dắt, vùng nguyên liệu rõ ràng, hợp đồng liên kết và phương án tiêu thụ cụ thể. Đây là cơ sở để tăng cường phối hợp giữa người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp, đồng thời nâng cao tính ổn định trong cung ứng nguyên liệu.
Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2030, tối thiểu 70% sản phẩm chủ lực thuộc phạm vi kế hoạch được cấp mã số vùng trồng, có hồ sơ số phục vụ truy xuất nguồn gốc; tối thiểu 40% sản phẩm tham gia Hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Các chỉ tiêu này cho thấy yêu cầu quản lý chất lượng và minh bạch thông tin ngày càng được coi trọng trong phát triển nông sản. Khi dữ liệu vùng trồng và thông tin sản phẩm được chuẩn hóa, doanh nghiệp có thêm cơ sở kiểm soát nguồn nguyên liệu, còn người tiêu dùng và đối tác có thể thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thông tin về sản phẩm.
Để đạt được mục tiêu, ngành nông nghiệp sẽ kết hợp đào tạo, tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Nguồn lực thực hiện được huy động, lồng ghép từ các chương trình khoa học, công nghệ, ngân sách nhà nước, chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách hỗ trợ và nguồn đối ứng của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Việc triển khai kế hoạch giai đoạn 2026–2030 được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực ứng dụng, làm chủ công nghệ, tăng cường liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Qua đó, Lào Cai từng bước nâng cao giá trị dược liệu, cây quế và các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, hướng tới nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, hiệu quả và bền vững.
