Trong phát triển kinh tế cửa khẩu, hạ tầng giao thông không đơn thuần phục vụ nhu cầu đi lại. Khả năng kết nối giữa các tuyến vận tải, cửa khẩu, kho bãi và khu vực sản xuất còn ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian lưu chuyển hàng hóa, chi phí logistics và quyết định lựa chọn tuyến vận chuyển của doanh nghiệp. Đó cũng là ý nghĩa kinh tế được kỳ vọng từ công trình cầu đường bộ qua sông Hồng tại khu vực biên giới Bát Xát – Bá Sái.
Dự án được Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc ký Hiệp định và Nghị định thư ngày 12/12/2023, khởi công ngày 31/3/2025. Phần công trình phía Việt Nam do Liên danh Trung Chính – Đường thủy số 1 thi công, có giá trị xây lắp 288 tỷ đồng.
Theo báo cáo tiến độ, khối lượng xây lắp phía Việt Nam đã đạt khoảng 190 tỷ đồng, tương đương 65% giá trị hợp đồng. Các nhà thầu đang tập trung nhân lực, thiết bị, đẩy nhanh thi công những hạng mục còn lại, phấn đấu hợp long cầu vào cuối tháng 12/2026.
Tuy nhiên, giá trị lớn hơn của dự án không chỉ nằm ở khối lượng xây dựng hoàn thành. Khi cây cầu được đưa vào khai thác, khả năng kết nối trực tiếp giữa khu vực Bát Xát với phía Bá Sái sẽ tạo thêm điều kiện phát triển hoạt động vận tải hàng hóa qua biên giới, đồng thời hỗ trợ hình thành các dịch vụ kinh tế gắn với cửa khẩu.
Công trình cũng được kỳ vọng bổ sung một mắt xích trong hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, kết nối khu vực Tây Nam Trung Quốc với các trung tâm kinh tế và cảng biển của Việt Nam. Hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào phương án tổ chức vận tải, năng lực thông quan và mức độ đồng bộ của hạ tầng hai phía.
![]() |
| Theo kế hoạch, phía Việt Nam phấn đấu hoàn thiện phần việc và bàn giao mặt bằng cho phía Trung Quốc trong đầu tháng 12/2026, tạo điều kiện triển khai các công đoạn tiếp theo, hai bên dự kiến hợp long cầu vào khoảng ngày 25-30/12/2026. |
Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, một tuyến vận tải thuận lợi có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả kinh doanh. Thời gian vận chuyển càng dễ dự báo, chi phí trung chuyển càng hợp lý thì doanh nghiệp càng chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch giao hàng, quản lý tồn kho và thực hiện hợp đồng thương mại.
Cầu Bát Xát – Bá Sái được kỳ vọng tạo thêm lựa chọn kết nối qua biên giới, góp phần phân bổ lưu lượng phương tiện và giảm sức ép cho các đầu mối hiện hữu khi hệ thống hạ tầng liên quan được hoàn thiện. Theo định hướng của ngành xây dựng Lào Cai, công trình gắn với việc chuẩn bị các điều kiện hình thành lối thông quan Bản Vược và phát triển dịch vụ logistics tại khu vực Bát Xát.
Nếu được tổ chức khai thác hiệu quả, tuyến kết nối mới có thể mang lại lợi ích cho nhiều nhóm doanh nghiệp. Các đơn vị vận tải có thêm cơ hội tổ chức tuyến hàng; doanh nghiệp logistics có điều kiện phát triển dịch vụ kho bãi, giao nhận và trung chuyển; doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu có thêm phương án lựa chọn để tính toán chi phí và thời gian giao hàng.
Đáng chú ý, lợi ích không chỉ nằm ở việc vận chuyển nhanh hơn mà còn ở khả năng giảm những chi phí phát sinh trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Khi thời gian chờ đợi, trung chuyển và giao nhận được rút ngắn, doanh nghiệp có thể sử dụng phương tiện, nhân lực và vốn lưu động hiệu quả hơn.
Dù vậy, đây là những lợi ích cần được kiểm chứng bằng thực tế vận hành. Muốn xác định chính xác hiệu quả kinh tế của cây cầu, cơ quan quản lý cần theo dõi lưu lượng phương tiện, thời gian thông quan, chi phí vận tải trên từng tuyến và mức tăng trưởng hàng hóa qua khu vực sau khi công trình đi vào hoạt động.
Một công trình giao thông chỉ thực sự phát huy giá trị khi có hàng hóa, doanh nghiệp và các hoạt động kinh tế sử dụng hạ tầng đó.
Với Bát Xát, cây cầu mở ra cơ hội để địa phương phát triển hệ sinh thái dịch vụ gắn với giao thương biên giới. Các hoạt động vận tải, kho bãi, đóng gói, bảo quản, giao nhận và dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu có thể trở thành những lĩnh vực thu hút doanh nghiệp tham gia nếu nhu cầu thị trường đủ lớn.
Đây cũng là hướng phát triển phù hợp với định hướng của tỉnh Lào Cai về liên kết cửa khẩu, giao thông, logistics, sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ trong giai đoạn 2026–2030. Tỉnh đặt trọng tâm vào phát triển cửa khẩu thông minh, hạ tầng vận tải, trung tâm logistics và ứng dụng nền tảng số để nâng cao năng lực thông quan, thu hút đầu tư.
Khi giao thương phát triển, cơ hội kinh doanh có thể lan tỏa tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở cung ứng dịch vụ và người dân địa phương. Nhu cầu vận chuyển, cung ứng vật tư, ăn uống, lưu trú, sửa chữa phương tiện và dịch vụ hỗ trợ hoạt động thương mại có thể tạo thêm việc làm, thu nhập.
Về lâu dài, nếu được kết nối với vùng sản xuất và chế biến, hạ tầng cửa khẩu còn có thể hỗ trợ doanh nghiệp địa phương tiếp cận thị trường thuận lợi hơn. Tuy nhiên, để hàng hóa địa phương hưởng lợi thực chất, cần phát triển năng lực sản xuất, bảo đảm chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu.
Nói cách khác, cây cầu tạo điều kiện kết nối, nhưng khả năng biến kết nối thành doanh thu, lợi nhuận và việc làm còn phụ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp và cách tổ chức phát triển kinh tế tại địa phương.
Từ góc độ phát triển kinh tế, yêu cầu đặt ra đối với Lào Cai không chỉ là hoàn thành công trình đúng kế hoạch, mà còn phải chuẩn bị tốt các điều kiện để khai thác sau đầu tư.
Trước hết, hệ thống đường dẫn và các tuyến kết nối cần bảo đảm khả năng tiếp nhận, phân luồng phương tiện phù hợp với nhu cầu vận tải. Hạ tầng bến bãi, kho hàng, điểm tập kết và các dịch vụ logistics cần được tính toán đồng bộ, tránh tình trạng có thêm tuyến kết nối nhưng hàng hóa vẫn mất nhiều thời gian chờ đợi ở những khâu khác.
Cùng với đó, việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý cửa khẩu hai nước có vai trò quan trọng trong tổ chức phương tiện, kiểm tra hàng hóa, trao đổi dữ liệu và xử lý thủ tục. Hạ tầng giao thông chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi đi cùng quy trình thông quan phù hợp, minh bạch và có khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Một vấn đề khác là thu hút doanh nghiệp tham gia vào hệ sinh thái kinh tế cửa khẩu. Chính quyền địa phương cần tạo điều kiện về thông tin quy hoạch, thủ tục đầu tư và môi trường kinh doanh, đồng thời khuyến khích phát triển các dịch vụ có nhu cầu thực, tránh đầu tư dàn trải hoặc hình thành năng lực kho bãi vượt quá lượng hàng hóa khai thác.
Sau khi công trình đi vào hoạt động, hiệu quả cần được đánh giá bằng những chỉ số cụ thể như số lượt phương tiện qua lại, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, thời gian vận chuyển và thông quan, chi phí logistics, số doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ, việc làm và thu nhập được tạo ra.
Đây là cơ sở để xác định cây cầu đang đóng góp như thế nào cho tăng trưởng kinh tế địa phương, đồng thời giúp cơ quan quản lý điều chỉnh chính sách phát triển cửa khẩu sát với nhu cầu thị trường.
Cầu Bát Xát – Bá Sái đang tiến gần mục tiêu hợp long vào cuối năm 2026. Khi công trình hoàn thành và được đưa vào khai thác, giá trị kinh tế của cây cầu sẽ không chỉ được đo bằng chiều dài hay tổng vốn đầu tư, mà còn bằng khả năng giúp hàng hóa lưu chuyển thuận lợi hơn, doanh nghiệp giảm chi phí, dịch vụ logistics phát triển và người dân địa phương có thêm cơ hội việc làm, thu nhập.
Từ một công trình kết nối hai bờ sông Hồng, mục tiêu lớn hơn là hình thành một mắt xích vận tải có hiệu quả trong mạng lưới giao thương Việt Nam – Trung Quốc. Để đạt được điều đó, tiến độ xây dựng cần đi cùng tiến độ hoàn thiện hạ tầng cửa khẩu, tổ chức thông quan và phát triển năng lực kinh doanh của doanh nghiệp địa phương.
