Theo thống kê của Trung tâm Dịch vụ việc làm TP. Hồ Chí Minh, trong tháng 10/2026, các doanh nghiệp trên địa bàn có nhu cầu tuyển dụng hơn 19.500 lao động, trong khi số người có nhu cầu tìm việc là hơn 17.900. Dù tổng nhu cầu tuyển dụng cao hơn nguồn cung, sự chênh lệch giữa hai phía thể hiện rõ ở từng nhóm ngành nghề.
Đáng chú ý, nhóm quản lý sản xuất – nghiên cứu và phát triển (R&D) – kiểm nghiệm có 1.248 vị trí cần tuyển, trong khi chỉ có 598 người tìm việc. Lĩnh vực bất động sản – phát triển dự án cần 749 lao động nhưng nguồn cung chỉ có 139 người. Tương tự, nhóm marketing – truyền thông – quảng cáo ghi nhận 559 vị trí tuyển dụng, cao hơn 353 người so với số người tìm việc.
Nhu cầu nhân lực cũng vượt nguồn cung ở một số lĩnh vực sản xuất và kỹ thuật. Ngành chế biến gỗ – sản phẩm nội thất cần 1.328 lao động, trong khi có 860 người tìm việc. Nhóm chế tạo – gia công cơ khí, kim loại có 994 vị trí tuyển dụng, cao hơn nguồn cung 780 người. Đối với nhóm vận hành máy – lao động kỹ thuật, doanh nghiệp cần 1.952 lao động, nhiều hơn 283 người so với số người tìm việc.
![]() |
| TP. Hồ Chí Minh: Doanh nghiệp khát nhân lực kỹ thuật, quản lý sản xuất |
Ở chiều ngược lại, một số ngành nghề có nguồn cung lao động cao hơn nhu cầu tuyển dụng. Ngành may – dệt – da giày ghi nhận 2.473 người tìm việc, chiếm 13,76% tổng nguồn cung, trong khi doanh nghiệp có 1.306 vị trí cần tuyển. Nhóm kế toán – kiểm toán – thuế có 850 người tìm việc so với 752 vị trí tuyển dụng. Lĩnh vực dịch vụ nhà hàng – khách sạn – du lịch cũng có 826 người tìm việc, cao hơn 141 người so với nhu cầu của doanh nghiệp.
Sự chênh lệch cung – cầu còn thể hiện ở cơ cấu trình độ chuyên môn. Bà Nguyễn Văn Hạnh Thục, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm TP. Hồ Chí Minh, cho biết nhu cầu tuyển dụng lao động trình độ cao đẳng đạt gần 4.000 vị trí, chiếm 20,33% tổng nhu cầu, trong khi số người tìm việc ở trình độ này chỉ có 1.642 người.
Trong khi đó, nhóm lao động có trình độ đại học có gần 5.500 người tìm việc, cao hơn số vị trí tuyển dụng, ở mức khoảng 5.000. Đối với lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, doanh nghiệp có nhu cầu tuyển 6.880 vị trí, trong khi nguồn cung đạt 5.859 người.
Những số liệu trên cho thấy thị trường lao động không chỉ đối mặt với bài toán thiếu hay thừa nhân lực về số lượng, mà còn là sự chưa tương thích giữa trình độ, kỹ năng của người tìm việc với yêu cầu tuyển dụng. Một số ngành có đông lao động tìm việc nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp ở các vị trí chuyên môn, kỹ thuật vẫn còn hạn chế.
Nhu cầu tuyển dụng tiếp tục tăng vào cuối năm
Bước vào những tháng cuối năm 2026, nhu cầu tuyển dụng tại TP. Hồ Chí Minh dự báo tiếp tục tập trung ở các nhóm kinh doanh – bán hàng – thương mại điện tử, sản xuất – chế biến, vận hành máy – lao động kỹ thuật và logistics – kho vận – xuất nhập khẩu.
Đây là giai đoạn nhiều doanh nghiệp tăng cường sản xuất, kinh doanh để hoàn thành kế hoạch năm, đồng thời chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán. Nhu cầu bổ sung lao động vì thế có thể gia tăng, nhất là tại các lĩnh vực sản xuất, phân phối và dịch vụ.
Trước diễn biến này, bà Nguyễn Văn Hạnh Thục khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động xây dựng kế hoạch tuyển dụng, có chính sách phù hợp để thu hút và giữ chân người lao động. Về phía người tìm việc, việc nâng cao kỹ năng nghề, thường xuyên cập nhật thông tin tuyển dụng và tham gia các hoạt động kết nối việc làm sẽ giúp tăng cơ hội tiếp cận vị trí phù hợp.
Thực tế thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh cho thấy, kết nối cung – cầu không thể chỉ dựa vào số lượng vị trí tuyển dụng và người tìm việc. Việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và gắn đào tạo với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp sẽ là những yếu tố quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa cung và cầu trong thời gian tới.
