![]() |
| TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Báo cáo đánh giá nhanh tác động của Chiến sự tại Iran tới kinh tế thế giới và Việt Nam. |
PV: Thưa ông, nhiều tổ chức quốc tế nhận định chiến sự tại Iran đang trở thành một cú sốc mới đối với kinh tế toàn cầu. Theo ông, tác động ban đầu của sự kiện này thể hiện rõ nhất ở đâu?
TS. Cấn Văn Lực: Có thể thấy phản ứng của thị trường diễn ra rất nhanh. Ngay sau khi chiến sự bùng phát vào cuối tháng 2, tâm lý bất an và thận trọng của nhà đầu tư gia tăng rõ rệt. Các chỉ số đo lường rủi ro địa chính trị toàn cầu đã tăng vọt lên mức cao nhất kể từ năm 2001, gần tương đương thời điểm xảy ra Chiến tranh Vùng Vịnh.
Trong những thời điểm như vậy, thị trường tài chính thường phản ứng theo quy luật quen thuộc: dòng vốn rời khỏi các tài sản rủi ro để chuyển sang những kênh trú ẩn an toàn hơn. Đồng USD vì thế có xu hướng mạnh lên, trong khi giá vàng và trái phiếu chính phủ trở thành nơi neo đậu của dòng vốn quốc tế.
Tuy nhiên, điều khiến cuộc xung đột này đặc biệt đáng chú ý là nó diễn ra tại một khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng toàn cầu. Chỉ riêng eo biển Hormuz đã đảm nhận khoảng 20% lưu lượng vận tải dầu và khí hóa lỏng trên thế giới. Bất kỳ rủi ro gián đoạn nào tại đây cũng lập tức tác động đến thị trường năng lượng.
![]() |
| Diễn biến giá dầu, vàng và chỉ số DXY từ 1/1/2026 đến 13/3/2026 (YTD,%) |
PV: Giá dầu đã phản ứng ra sao kể từ khi chiến sự nổ ra?
TS. Cấn Văn Lực: Thị trường dầu mỏ phản ứng rất mạnh. Chỉ vài ngày sau khi xung đột bùng phát, giá dầu Brent đã có thời điểm lên tới 115,6 USD/thùng vào ngày 2/3/2026, tức tăng gần gấp đôi so với đầu năm.
Sau đó, giá có hạ nhiệt phần nào khi một số quốc gia xả kho dự trữ chiến lược nhằm ổn định thị trường. Tuy nhiên, xu hướng chung vẫn là tăng mạnh khi căng thẳng tiếp tục leo thang. Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, đến giữa tháng 3/2026, giá dầu Brent đã tăng gần 70% so với đầu năm và tăng khoảng 45% so với thời điểm trước khi chiến sự bùng phát.
Song song với đó, đồng USD tăng khoảng 2,1% so với đầu năm do nhu cầu trú ẩn gia tăng. Giá vàng từng vọt lên tới 5.400 USD/ounce trước khi điều chỉnh xuống quanh mức 5.050 USD/ounce. (Theo báo cáo, vàng tăng 21,4% từ đầu năm đến 27/2, sau đó còn tăng 15,4%). Các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới cũng đồng loạt điều chỉnh khi nhà đầu tư trở nên thận trọng hơn trước những bất định mới của kinh tế toàn cầu.
PV: Nhóm nghiên cứu của BIDV, các chuyên gia đưa ra những kịch bản nào cho kinh tế thế giới nếu xung đột kéo dài, thưa ông?
TS. Cấn Văn Lực: Chúng tôi xây dựng ba kịch bản dựa trên mức độ lan rộng và thời gian kéo dài của chiến sự.
Trong kịch bản cơ sở, nếu xung đột được kiểm soát và kết thúc trong khoảng một tháng, giá dầu quốc tế có thể tăng mạnh trong ngắn hạn rồi dần ổn định, với mức bình quân năm 2026 khoảng 80–83 USD/thùng, cao hơn khoảng 15–20% so với năm trước. Trong trường hợp này, lạm phát toàn cầu có thể tăng thêm khoảng 0,4–0,6 điểm phần trăm, trong khi tăng trưởng kinh tế thế giới giảm khoảng 0,2–0,3 điểm phần trăm so với dự báo ban đầu.
Ở kịch bản tiêu cực hơn, nếu xung đột kéo dài và việc vận chuyển dầu qua eo biển Hormuz bị gián đoạn trong vài tháng, giá dầu có thể lên tới 115–120 USD/thùng ở một số thời điểm. Khi đó, lạm phát toàn cầu có thể tăng thêm từ 0,6 đến 1 điểm phần trăm và tăng trưởng kinh tế thế giới có thể giảm từ 0,4 đến 0,7 điểm phần trăm.
Trong kịch bản xấu nhất, nếu chiến sự lan rộng và kéo dài với sự tham gia của nhiều quốc gia, nguồn cung năng lượng toàn cầu có thể bị gián đoạn nghiêm trọng, đẩy giá dầu lên vùng 120–140 USD/thùng. Khi đó, lạm phát toàn cầu có thể tăng thêm tới 1,2–1,7 điểm phần trăm, còn GDP thế giới có thể giảm khoảng 0,8–1 điểm phần trăm.
![]() |
| Tác động kinh tế thế giới năm 2026 theo ba kịch bản |
PV: Với một nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam, những tác động trực tiếp sẽ thể hiện ở những lĩnh vực nào?
TS. Cấn Văn Lực: Tác động đầu tiên và rõ nhất là lĩnh vực năng lượng. Mặc dù hai nhà máy lọc dầu trong nước đã đáp ứng khoảng 68% nhu cầu, Việt Nam vẫn phải phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung xăng dầu nhập khẩu. Hiện tổng nhu cầu xăng dầu và khí đốt của Việt Nam khoảng 26,65 triệu tấn mỗi năm, trong đó nguồn cung trong nước mới đáp ứng khoảng 54,4%. Phần còn lại vẫn phải phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu. Theo số liệu của Cục Hải quan, năm 2025 Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 27,7 triệu tấn các sản phẩm năng lượng, với tổng trị giá hơn 16,7 tỷ USD. Trong đó, khu vực Trung Đông chiếm khoảng 39% giá trị nhập khẩu năng lượng. Điều đó cho thấy nền kinh tế vẫn gắn khá chặt với chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu, đặc biệt là khu vực Trung Đông.
Vì vậy, khi giá dầu tăng mạnh, nhiều ngành kinh tế sẽ chịu tác động dây chuyền. Các lĩnh vực như vận tải, hàng không, logistics hay du lịch sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp do chi phí nhiên liệu tăng. Trong khi đó, các ngành sản xuất sử dụng nhiều năng lượng như hóa chất, phân bón, thép, vật liệu xây dựng hay điện tử cũng sẽ chịu áp lực chi phí đầu vào lớn hơn.
Bên cạnh yếu tố năng lượng, thương mại với khu vực Trung Đông cũng chịu tác động nhất định. Năm 2025, khu vực này nhập khẩu khoảng 1,74 tỷ USD nông, thủy sản từ Việt Nam, tương đương hơn 2% kim ngạch xuất khẩu của ngành nông – lâm – ngư nghiệp. Khi chiến sự xảy ra, chi phí logistics, bảo hiểm vận tải và bảo quản lạnh đều gia tăng, có thể làm giảm biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu biến động, một số doanh nghiệp Việt Nam cũng đang tìm thấy cơ hội mở rộng thị trường sang châu Âu hoặc châu Phi khi nguồn cung từ các khu vực khác bị gián đoạn
PV: Ngoài năng lượng, các yếu tố tài chính vĩ mô như tỷ giá và dòng vốn sẽ chịu tác động ra sao?
TS. Cấn Văn Lực: Khi đồng USD mạnh lên, nhiều đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi sẽ chịu áp lực mất giá, trong đó có đồng Việt Nam. Theo tính toán của chúng tôi, trong kịch bản cơ sở, tỷ giá USD/VND có thể tăng khoảng 2–3% trong năm 2026. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, mức biến động có thể lớn hơn.
Tỷ giá tăng sẽ kéo theo chi phí nhập khẩu cao hơn, đồng thời ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường tài chính. Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý cũng đóng vai trò rất quan trọng. Khi bất định gia tăng, doanh nghiệp và nhà đầu tư thường trở nên thận trọng hơn trong các quyết định đầu tư và mở rộng sản xuất.
PV: Những tác động đó có thể ảnh hưởng thế nào đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm nay?
TS. Cấn Văn Lực: Trong kịch bản cơ sở, chúng tôi ước tính tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 có thể giảm khoảng 0,5–1 điểm phần trăm so với trường hợp không có chiến sự. Dòng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam có thể giảm nhẹ trong ngắn hạn, khoảng 0,5–1 điểm phần trăm, chủ yếu do tâm lý thận trọng của nhà đầu tư quốc tế.
Kết hợp các yếu tố này, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể giảm khoảng 0,6–0,8 điểm phần trăm so với kịch bản không có xung đột. Đồng thời, lạm phát cũng chịu áp lực tăng do giá nhiên liệu và chi phí vận tải tăng. Nếu giá năng lượng tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian dài, mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong năm nay có thể chịu thêm áp lực.
(Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, nhiên liệu hiện chiếm khoảng 4% trong rổ tính CPI của Việt Nam, trong khi nhóm giao thông chiếm khoảng 9,67%. Vì vậy, biến động của giá dầu thế giới thường có tốc độ truyền dẫn khá nhanh vào lạm phát trong nước thông qua chi phí vận tải, logistics và sản xuất).
![]() |
| Tác động kinh tế Việt Nam năm 2026 theo ba kịch bản |
PV: Theo ông, đâu là thông điệp quan trọng nhất đối với các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay?
TS. Cấn Văn Lực: Điều quan trọng nhất là giữ được sự bình tĩnh và chủ động. Những cú sốc địa chính trị như vậy thường khiến thị trường phản ứng mạnh trong ngắn hạn, nhưng không phải lúc nào cũng dẫn đến khủng hoảng dài hạn.
Đối với Chính phủ, ưu tiên trước mắt là bảo đảm ổn định nguồn cung năng lượng, kiểm soát lạm phát và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Về dài hạn, cần tiếp tục củng cố an ninh năng lượng thông qua đa dạng hóa nguồn cung, tăng dự trữ chiến lược và thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo.
Đối với doanh nghiệp, điều quan trọng là nâng cao năng lực quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro về năng lượng, tỷ giá và chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh thế giới đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng, những nền kinh tế có môi trường ổn định và khả năng thích ứng tốt như Việt Nam vẫn có cơ hội thu hút thêm các dòng vốn đầu tư mới.
Trân trọng cảm ơn ông!