Thứ bảy 12/09/2026 21:24
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

BHXH cho hướng dẫn viên du lịch, vướng mãi chưa thông

Một hướng dẫn viên có thể hôm nay dẫn tour cho doanh nghiệp này, ngày mai nhận tour của doanh nghiệp khác, mỗi tour chỉ một, hai ngày. Mô hình lao động ấy đã tồn tại hàng chục năm, nhưng đến nay bài toán bảo hiểm xã hội (BHXH) vẫn chưa có cách xử lý thật rõ ràng.

Trong buổi đối thoại mới đây giữa doanh nghiệp du lịch và chính quyền TP. HCM, BHXH được một đại diện doanh nghiệp lữ hành gọi là “vấn đề rất hot” và “nỗi đau chung” của ngành.

Đây không phải câu chuyện mới. Sau cả chục năm, qua một đại dịch và một lần sửa luật, nút thắt cũ vẫn còn đó: thị trường lao động đã rất linh hoạt, nhưng cách quản lý vẫn chưa theo kịp.

Năm 2021, khi ngành du lịch gần như tê liệt do đại dịch, Nhà nước ban hành Quyết định 23/2021/QĐ-TTg, trong đó có chính sách hỗ trợ hướng dẫn viên (HDV) du lịch gặp khó khăn do đại dịch. Mức hỗ trợ là 3,71 triệu đồng/người, chi một lần. Đáng chú ý, điều kiện hỗ trợ không chỉ dành cho hướng dẫn viên có hợp đồng lao động với doanh nghiệp lữ hành, mà còn chấp nhận trường hợp là hội viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp về hướng dẫn du lịch.

Hướng dẫn viên tự do đã hình thành cùng quá trình mở cửa và phát triển ngành du lịch từ trước năm 2000.
Hướng dẫn viên tự do đã hình thành cùng quá trình mở cửa và phát triển ngành du lịch từ trước năm 2000 (hình ảnh chỉ có tính minh họa, không ám chỉ cá nhân trong hình cho bài viết).

Chính sách hỗ trợ khi đó đã nhìn thấy một thực tế: một bộ phận hướng dẫn viên không sống bằng hợp đồng lao động cố định.

Họ là lao động tự do của thị trường du lịch. Có thể nhận tour của doanh nghiệp này hôm nay, doanh nghiệp khác ngày mai. Có người chỉ làm vài ngày trong tháng, có người chỉ nhận tour quốc tế theo từng đoàn. Khi không có khách, họ không có việc và cũng không có thu nhập.

Cách vận hành này không phải sản phẩm của Covid-19. Hướng dẫn viên tự do đã hình thành cùng quá trình mở cửa và phát triển ngành du lịch từ trước năm 2000.

Nhưng khi đặt vào bài toán BHXH, sự linh hoạt ấy lại trở thành một nút thắt pháp lý.

Giữa năm nay, Công ty TNHH Du lịch One More Destination ở Hà Nội gửi câu hỏi đến BHXH thành phố Hà Nội về trường hợp các hướng dẫn viên tự do. Công ty cho biết thường hợp tác với hướng dẫn viên để thực hiện những tour phát sinh ngắn ngày, phổ biến một, hai ngày mỗi tour. Hai bên ký hợp đồng dịch vụ và thanh toán sau khi hoàn thành công việc.

Theo doanh nghiệp, các hướng dẫn viên này không thuộc biên chế, không làm việc thường xuyên, không hưởng lương cố định hàng tháng, không chấm công, không chịu sự quản lý, điều hành như lao động chính thức. Họ chủ động nhận hoặc từ chối tour và có thể đồng thời cộng tác với nhiều doanh nghiệp khác. Đây không phải tình huống cá biệt, mà phản ánh khá rõ cách ngành lữ hành đang vận hành.

Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, tính đến cuối 2025, cả nước có 44.733 thẻ hướng dẫn viên (HDV) du lịch đã được cấp và đang hoạt động, trong đó có 26.676 thẻ HDV quốc tế, 15.820 thẻ HDV nội địa, 2.237 thẻ HDV tại điểm.

Điểm đáng chú ý là câu trả lời của BHXH thành phố Hà Nội ngày 25/5/2026 không đưa ra một công thức riêng cho hướng dẫn viên tự do. Cơ quan này dẫn Luật BHXH 2024, theo đó người làm việc theo hợp đồng từ đủ một tháng trở lên thuộc diện BHXH bắt buộc, kể cả trường hợp hợp đồng mang tên khác nhưng thực chất có việc làm trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.

Sau đó, cơ quan BHXH đề nghị doanh nghiệp cung cấp hồ sơ thực tế để phối hợp kiểm tra, rà soát và xác định đối tượng.

Câu trả lời ấy đúng về nguyên tắc pháp lý, nhưng đồng thời cho thấy khoảng trống mà doanh nghiệp đang đối mặt. Câu hỏi không chỉ là “có phải đóng hay không”, mà trước hết là xác định bản chất quan hệ giữa doanh nghiệp và hướng dẫn viên.

Một hướng dẫn viên nhận một tour hai ngày, không có mặt thường xuyên tại doanh nghiệp, không hưởng lương tháng, không chấm công, có quyền từ chối tour và cùng lúc nhận việc từ nhiều công ty thì quan hệ ấy được xác định như thế nào?

Nếu thực chất là quan hệ lao động, doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ BHXH. Luật BHXH mới cũng quy định trường hợp hợp đồng mang tên khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát thì vẫn thuộc diện tham gia.

Nhưng nếu đó thực sự là quan hệ dịch vụ độc lập, cách áp dụng lại khác. Vấn đề nằm ở ranh giới giữa hai loại quan hệ này. Với những tour phát sinh liên tục, người hướng dẫn làm việc cho nhiều doanh nghiệp, ranh giới ấy càng khó xác định bằng những tiêu chí hành chính đơn giản.

Luật BHXH cũng quy định người lao động thuộc một số nhóm nếu không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không phải đóng BHXH tháng đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này giải quyết được một phần bài toán thời gian làm việc, nhưng chưa tự nó trả lời được câu hỏi quan trọng hơn: một người làm việc theo từng tour cho nhiều doanh nghiệp thì trách nhiệm BHXH được phân định thế nào?

Đây là điểm cần được hướng dẫn cụ thể hơn. Không thể vì khó quản lý mà bỏ qua quyền lợi BHXH của hướng dẫn viên. Nhưng cũng không thể chỉ bằng một mệnh lệnh hành chính mà biến mọi hợp đồng dịch vụ ngắn ngày thành quan hệ lao động.

Nếu cách làm cuối cùng là yêu cầu doanh nghiệp báo tăng, báo giảm liên tục theo từng tour, chi phí tuân thủ sẽ tăng mạnh. Một hướng dẫn viên có thể làm việc cho nhiều doanh nghiệp trong cùng tháng, thậm chí cùng một khoảng thời gian. Nếu mỗi doanh nghiệp đều phải xử lý một hồ sơ BHXH theo từng lần phát sinh, hệ thống sẽ vừa nặng thủ tục, vừa khó kiểm soát.

Doanh nghiệp nhỏ sẽ chịu sức ép lớn nhất. Ngành lữ hành vốn có biên lợi nhuận mỏng. Có những tour bán với giá chỉ vài trăm ngàn đồng, trong khi chi phí vận chuyển, vé tham quan, ăn uống, điều hành và hướng dẫn viên đã chiếm phần đáng kể. Doanh nghiệp phản ánh nếu phải gánh thêm các khoản truy thu hoặc nghĩa vụ BHXH phát sinh từ những tour ngắn ngày, áp lực tài chính sẽ không nhỏ, chưa kể chi phí giấy tờ và tuân thủ.

Nhưng đằng sau câu chuyện chi phí của doanh nghiệp còn có một vấn đề lớn hơn: quyền lợi của chính hướng dẫn viên.

Một nghề phụ thuộc vào mùa du lịch, lượng khách và số tour mà lại không có cơ chế an sinh phù hợp thì người chịu rủi ro cuối cùng vẫn là người lao động.

cần thiết kế cơ chế xác định rõ thế nào là hướng dẫn viên làm việc theo quan hệ lao động, thế nào là cung cấp dịch vụ độc lập
Cần thiết kế cơ chế xác định rõ thế nào là hướng dẫn viên làm việc theo quan hệ lao động, thế nào là cung cấp dịch vụ độc lập (hình ảnh chỉ có tính minh họa).

Covid-19 từng cho thấy điều đó. Khi tour biến mất, một bộ phận hướng dẫn viên gần như mất toàn bộ thu nhập. Khoản hỗ trợ 3,71 triệu đồng một lần khi ấy là một chiếc phao cần thiết, nhưng hỗ trợ khẩn cấp không thể thay thế một cơ chế BHXH bền vững.

Đã đến lúc nhìn bài toán này theo hướng khác. Thay vì chỉ hỏi doanh nghiệp có đóng hay không, cần thiết kế cơ chế xác định rõ thế nào là hướng dẫn viên làm việc theo quan hệ lao động, thế nào là cung cấp dịch vụ độc lập; trường hợp làm việc cho nhiều doanh nghiệp thì đơn vị nào chịu trách nhiệm; thời gian, tiền lương và căn cứ đóng được xác định ra sao.

Cơ quan quản lý du lịch và cơ quan BHXH cần ngồi lại với doanh nghiệp và chính đội ngũ hướng dẫn viên để xây dựng cách thực hiện.

Đây không phải đề nghị “nới” chính sách để doanh nghiệp né nghĩa vụ. Ngược lại, quy định rõ ràng sẽ giúp doanh nghiệp tuân thủ dễ hơn, cơ quan BHXH quản lý hiệu quả hơn và hướng dẫn viên được bảo vệ tốt hơn.

Luật đã thay đổi, thị trường cũng đã thay đổi, nhưng cách giải bài toán BHXH cho một nghề đặc thù dường như vẫn chưa thay đổi đủ nhanh.

Vướng cả chục năm qua mà vẫn còn vướng, có lẽ đã đến lúc không chỉ hỏi doanh nghiệp có làm đúng luật hay không. Cần hỏi thêm một câu khó hơn: luật đã được thiết kế đủ sát với thực tế của nghề hay chưa?

Tin bài khác
Đừng để chỉ dẫn địa lý thành “tem trang trí”

Đừng để chỉ dẫn địa lý thành “tem trang trí”

Mật ong bạc hà Mèo Vạc được khai thác từ nguồn hoa bạc hà dại mọc trên vùng núi đá cao của Hà Giang (cũ). Sản phẩm có màu vàng xanh đặc trưng, vị ngọt dịu và mùi thơm dễ chịu. Để làm ra mật ong này đòi hỏi người nuôi ong phải liên tục di chuyển ong trong năm đến các vùng có hoa nở, đồng thời sống kiểu du mục.
Cơ hội ở trạm xăng, vì sao doanh nghiệp Việt để người khác làm?

Cơ hội ở trạm xăng, vì sao doanh nghiệp Việt để người khác làm?

Một người ghé trạm xăng thường chỉ nghĩ đến chuyện đổ đầy bình nhiên liệu rồi đi. Nhưng trong vài phút dừng lại ấy, còn có rất nhiều nhu cầu khác có thể phát sinh: chai nước, ly cà phê, món ăn nhanh, vật dụng cá nhân hay một món đồ cần mua gấp. Sự kiện Ohmee đưa cửa hàng tiện lợi vào trạm xăng đang đặt ra câu hỏi về khả năng nắm bắt cơ hội của doanh nghiệp Việt.
Thu hồi dược phẩm: Khoảng trống giữa công văn và thị trường

Thu hồi dược phẩm: Khoảng trống giữa công văn và thị trường

Thu hồi dược phẩm hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào sự tự giác của doanh nghiệp và nhà thuốc. Khoảng trống trong giám sát, truy xuất và xử lý khiến thuốc giả, thuốc kém chất lượng có nguy cơ tiếp tục lưu thông.
Kẹt xe là bình thường, không kẹt mới bất thường

Kẹt xe là bình thường, không kẹt mới bất thường

Lượng ô tô, xe máy tăng nhanh trong khi hạ tầng giao thông chưa theo kịp đang khiến kẹt xe trở thành trạng thái thường trực. Đầu tư đường bộ là cần thiết, nhưng đã đến lúc phải nhìn lại vai trò của đường sắt.
Khi nào người Việt có thể cá cược bóng đá nhiều giải đấu lớn?

Khi nào người Việt có thể cá cược bóng đá nhiều giải đấu lớn?

Nhà nước đang tìm cách hợp pháp hóa “đặt cược”, trong khi nhu cầu “cá độ” đã tồn tại từ lâu. Vấn đề không phải tạo ra nhu cầu, mà là đưa nhu cầu ấy vào một luật chơi có thể kiểm soát.
65.000 hội viên và câu hỏi về giá trị

65.000 hội viên và câu hỏi về giá trị

VINASME đã có một cộng đồng doanh nghiệp đủ lớn. Bài toán tiếp theo là biến sức mạnh tập thể thành vốn, khách hàng, thị trường và năng lực cạnh tranh cụ thể cho từng doanh nghiệp.
Đừng lấy triệu lượt xem làm thước đo sự thật

Đừng lấy triệu lượt xem làm thước đo sự thật

Triệu lượt xem, KOL có thể đưa thông điệp đến hàng triệu người chỉ trong vài giờ, nhưng lượt xem và lượng người theo dõi không phải giấy chứng nhận cho sự thật. Khi sức ảnh hưởng bị đặt ngang với năng lực kiểm chứng, ranh giới giữa truyền thông cá nhân và báo chí chính thống dễ bị xóa nhòa, đe dọa quyền tiếp cận thông tin chính xác của công chúng.
Phí dịch vụ không sai, vấn đề là khách hàng có quyền chọn hay không

Phí dịch vụ không sai, vấn đề là khách hàng có quyền chọn hay không

Thu phí để duy trì ví điện tử có thể là quyền chính đáng của doanh nghiệp chủ ví. Nhưng, khi khách hàng không muốn trả phí, điều quan trọng hơn là họ có thể lựa chọn phương án khác hay không?
Drone thì rẻ mà hàng không thì “đắt”

Drone thì rẻ mà hàng không thì “đắt”

Một chiếc drone có thể chỉ vài triệu đồng, nhưng nó có thể khiến hơn 100 chuyến bay chậm giờ, hàng ngàn hành khách phải chờ đợi, thiệt hại khó đo đếm hết được. Câu chuyện ở Tân Sơn Nhất cho thấy vấn đề không nằm ở chiếc drone, mà nằm ở cách chúng ta quản lý một công nghệ đã trở nên quá rẻ và quá phổ biến.
Khi sự chú ý trở thành quyền lực

Khi sự chú ý trở thành quyền lực

Sự chú ý trở thành quyền lực khi lượt xem trên livestream có thể chuyển hóa thành tiền, danh tiếng và sức ảnh hưởng. Đằng sau những cuộc đấu tố, phô trương hay kêu gọi từ thiện trên mạng là câu chuyện về vốn danh tiếng, cách xã hội định giá con người và khoảng cách giữa hình ảnh với năng lực thực.
Từ Sơn Đoòng nghĩ về hành trình ra thế giới

Từ Sơn Đoòng nghĩ về hành trình ra thế giới

Sau hành trình xuyên rừng, vượt sông suối và bước qua Bức tường Việt Nam ở hàng động Sơn Đoòng, tôi nhận ra một điều: hội nhập quốc tế cũng giống một cuộc thám hiểm lớn. Khát vọng đưa doanh nghiệp lên đường, nhưng năng lực, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh của cả hệ sinh thái mới quyết định chúng ta có thể đi bao xa.
Khi bầu trời trở thành hạ tầng mới

Khi bầu trời trở thành hạ tầng mới

Kinh tế tầm thấp mở ra không gian tăng trưởng mới, nhưng lợi thế sẽ thuộc về địa phương xây dựng được thể chế, hệ sinh thái và hạ tầng UAV đồng bộ.
Thương mại điện tử không thể lớn lên bằng rác thải

Thương mại điện tử không thể lớn lên bằng rác thải

Thương mại điện tử đang tăng trưởng hơn 25% mỗi năm và trở thành động lực của kinh tế số, nhưng phía sau hàng triệu đơn hàng mỗi ngày là lượng bao bì nhựa, carton khổng lồ mà xã hội phải gánh chi phí xử lý. Đã đến lúc tăng trưởng phải đi cùng trách nhiệm môi trường.
Xe đá không rõ nguồn gốc ở Lào Cai và khoảng trống quản trị tài nguyên

Xe đá không rõ nguồn gốc ở Lào Cai và khoảng trống quản trị tài nguyên

Sáu tấn đá tự nhiên không có giấy tờ hợp pháp bị phát hiện trên một xe tải tại xã Yên Bình, tỉnh Lào Cai đã được xử lý theo quy định. Tuy nhiên, phía sau vụ việc không chỉ là hành vi vận chuyển khoáng sản trái quy định mà còn là những khoảng trống trong quản trị tài nguyên. Khi khoáng sản đã lên xe, đồng nghĩa trước đó đã tồn tại cả một chuỗi khai thác, thu gom, mua bán và vận chuyển cần được truy ngược để xử lý tận gốc.
Pin lưu trữ, mảnh ghép còn thiếu của điện xanh

Pin lưu trữ, mảnh ghép còn thiếu của điện xanh

Tổng công ty Điện lực Hà Nội đã triển khai hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin tại 5 trạm biến áp 110kV cùng kế hoạch đầu tư quy mô lớn của Tổng công ty Điện lực miền Bắc cho thấy, ngành điện đang chuyển từ tư duy chỉ phát triển nguồn điện sang tối ưu vận hành bằng lưu trữ năng lượng.