Trong buổi đối thoại mới đây giữa doanh nghiệp du lịch và chính quyền TP. HCM, BHXH được một đại diện doanh nghiệp lữ hành gọi là “vấn đề rất hot” và “nỗi đau chung” của ngành.
Đây không phải câu chuyện mới. Sau cả chục năm, qua một đại dịch và một lần sửa luật, nút thắt cũ vẫn còn đó: thị trường lao động đã rất linh hoạt, nhưng cách quản lý vẫn chưa theo kịp.
Năm 2021, khi ngành du lịch gần như tê liệt do đại dịch, Nhà nước ban hành Quyết định 23/2021/QĐ-TTg, trong đó có chính sách hỗ trợ hướng dẫn viên (HDV) du lịch gặp khó khăn do đại dịch. Mức hỗ trợ là 3,71 triệu đồng/người, chi một lần. Đáng chú ý, điều kiện hỗ trợ không chỉ dành cho hướng dẫn viên có hợp đồng lao động với doanh nghiệp lữ hành, mà còn chấp nhận trường hợp là hội viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp về hướng dẫn du lịch.
![]() |
| Hướng dẫn viên tự do đã hình thành cùng quá trình mở cửa và phát triển ngành du lịch từ trước năm 2000 (hình ảnh chỉ có tính minh họa, không ám chỉ cá nhân trong hình cho bài viết). |
Chính sách hỗ trợ khi đó đã nhìn thấy một thực tế: một bộ phận hướng dẫn viên không sống bằng hợp đồng lao động cố định.
Họ là lao động tự do của thị trường du lịch. Có thể nhận tour của doanh nghiệp này hôm nay, doanh nghiệp khác ngày mai. Có người chỉ làm vài ngày trong tháng, có người chỉ nhận tour quốc tế theo từng đoàn. Khi không có khách, họ không có việc và cũng không có thu nhập.
Cách vận hành này không phải sản phẩm của Covid-19. Hướng dẫn viên tự do đã hình thành cùng quá trình mở cửa và phát triển ngành du lịch từ trước năm 2000.
Nhưng khi đặt vào bài toán BHXH, sự linh hoạt ấy lại trở thành một nút thắt pháp lý.
Giữa năm nay, Công ty TNHH Du lịch One More Destination ở Hà Nội gửi câu hỏi đến BHXH thành phố Hà Nội về trường hợp các hướng dẫn viên tự do. Công ty cho biết thường hợp tác với hướng dẫn viên để thực hiện những tour phát sinh ngắn ngày, phổ biến một, hai ngày mỗi tour. Hai bên ký hợp đồng dịch vụ và thanh toán sau khi hoàn thành công việc.
Theo doanh nghiệp, các hướng dẫn viên này không thuộc biên chế, không làm việc thường xuyên, không hưởng lương cố định hàng tháng, không chấm công, không chịu sự quản lý, điều hành như lao động chính thức. Họ chủ động nhận hoặc từ chối tour và có thể đồng thời cộng tác với nhiều doanh nghiệp khác. Đây không phải tình huống cá biệt, mà phản ánh khá rõ cách ngành lữ hành đang vận hành.
| Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, tính đến cuối 2025, cả nước có 44.733 thẻ hướng dẫn viên (HDV) du lịch đã được cấp và đang hoạt động, trong đó có 26.676 thẻ HDV quốc tế, 15.820 thẻ HDV nội địa, 2.237 thẻ HDV tại điểm. |
Điểm đáng chú ý là câu trả lời của BHXH thành phố Hà Nội ngày 25/5/2026 không đưa ra một công thức riêng cho hướng dẫn viên tự do. Cơ quan này dẫn Luật BHXH 2024, theo đó người làm việc theo hợp đồng từ đủ một tháng trở lên thuộc diện BHXH bắt buộc, kể cả trường hợp hợp đồng mang tên khác nhưng thực chất có việc làm trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.
Sau đó, cơ quan BHXH đề nghị doanh nghiệp cung cấp hồ sơ thực tế để phối hợp kiểm tra, rà soát và xác định đối tượng.
Câu trả lời ấy đúng về nguyên tắc pháp lý, nhưng đồng thời cho thấy khoảng trống mà doanh nghiệp đang đối mặt. Câu hỏi không chỉ là “có phải đóng hay không”, mà trước hết là xác định bản chất quan hệ giữa doanh nghiệp và hướng dẫn viên.
Một hướng dẫn viên nhận một tour hai ngày, không có mặt thường xuyên tại doanh nghiệp, không hưởng lương tháng, không chấm công, có quyền từ chối tour và cùng lúc nhận việc từ nhiều công ty thì quan hệ ấy được xác định như thế nào?
Nếu thực chất là quan hệ lao động, doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ BHXH. Luật BHXH mới cũng quy định trường hợp hợp đồng mang tên khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát thì vẫn thuộc diện tham gia.
Nhưng nếu đó thực sự là quan hệ dịch vụ độc lập, cách áp dụng lại khác. Vấn đề nằm ở ranh giới giữa hai loại quan hệ này. Với những tour phát sinh liên tục, người hướng dẫn làm việc cho nhiều doanh nghiệp, ranh giới ấy càng khó xác định bằng những tiêu chí hành chính đơn giản.
Luật BHXH cũng quy định người lao động thuộc một số nhóm nếu không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không phải đóng BHXH tháng đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này giải quyết được một phần bài toán thời gian làm việc, nhưng chưa tự nó trả lời được câu hỏi quan trọng hơn: một người làm việc theo từng tour cho nhiều doanh nghiệp thì trách nhiệm BHXH được phân định thế nào?
Đây là điểm cần được hướng dẫn cụ thể hơn. Không thể vì khó quản lý mà bỏ qua quyền lợi BHXH của hướng dẫn viên. Nhưng cũng không thể chỉ bằng một mệnh lệnh hành chính mà biến mọi hợp đồng dịch vụ ngắn ngày thành quan hệ lao động.
Nếu cách làm cuối cùng là yêu cầu doanh nghiệp báo tăng, báo giảm liên tục theo từng tour, chi phí tuân thủ sẽ tăng mạnh. Một hướng dẫn viên có thể làm việc cho nhiều doanh nghiệp trong cùng tháng, thậm chí cùng một khoảng thời gian. Nếu mỗi doanh nghiệp đều phải xử lý một hồ sơ BHXH theo từng lần phát sinh, hệ thống sẽ vừa nặng thủ tục, vừa khó kiểm soát.
Doanh nghiệp nhỏ sẽ chịu sức ép lớn nhất. Ngành lữ hành vốn có biên lợi nhuận mỏng. Có những tour bán với giá chỉ vài trăm ngàn đồng, trong khi chi phí vận chuyển, vé tham quan, ăn uống, điều hành và hướng dẫn viên đã chiếm phần đáng kể. Doanh nghiệp phản ánh nếu phải gánh thêm các khoản truy thu hoặc nghĩa vụ BHXH phát sinh từ những tour ngắn ngày, áp lực tài chính sẽ không nhỏ, chưa kể chi phí giấy tờ và tuân thủ.
Nhưng đằng sau câu chuyện chi phí của doanh nghiệp còn có một vấn đề lớn hơn: quyền lợi của chính hướng dẫn viên.
Một nghề phụ thuộc vào mùa du lịch, lượng khách và số tour mà lại không có cơ chế an sinh phù hợp thì người chịu rủi ro cuối cùng vẫn là người lao động.
![]() |
| Cần thiết kế cơ chế xác định rõ thế nào là hướng dẫn viên làm việc theo quan hệ lao động, thế nào là cung cấp dịch vụ độc lập (hình ảnh chỉ có tính minh họa). |
Covid-19 từng cho thấy điều đó. Khi tour biến mất, một bộ phận hướng dẫn viên gần như mất toàn bộ thu nhập. Khoản hỗ trợ 3,71 triệu đồng một lần khi ấy là một chiếc phao cần thiết, nhưng hỗ trợ khẩn cấp không thể thay thế một cơ chế BHXH bền vững.
Đã đến lúc nhìn bài toán này theo hướng khác. Thay vì chỉ hỏi doanh nghiệp có đóng hay không, cần thiết kế cơ chế xác định rõ thế nào là hướng dẫn viên làm việc theo quan hệ lao động, thế nào là cung cấp dịch vụ độc lập; trường hợp làm việc cho nhiều doanh nghiệp thì đơn vị nào chịu trách nhiệm; thời gian, tiền lương và căn cứ đóng được xác định ra sao.
Cơ quan quản lý du lịch và cơ quan BHXH cần ngồi lại với doanh nghiệp và chính đội ngũ hướng dẫn viên để xây dựng cách thực hiện.
Đây không phải đề nghị “nới” chính sách để doanh nghiệp né nghĩa vụ. Ngược lại, quy định rõ ràng sẽ giúp doanh nghiệp tuân thủ dễ hơn, cơ quan BHXH quản lý hiệu quả hơn và hướng dẫn viên được bảo vệ tốt hơn.
Luật đã thay đổi, thị trường cũng đã thay đổi, nhưng cách giải bài toán BHXH cho một nghề đặc thù dường như vẫn chưa thay đổi đủ nhanh.
Vướng cả chục năm qua mà vẫn còn vướng, có lẽ đã đến lúc không chỉ hỏi doanh nghiệp có làm đúng luật hay không. Cần hỏi thêm một câu khó hơn: luật đã được thiết kế đủ sát với thực tế của nghề hay chưa?