Chủ nhật 16/08/2026 21:50
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

Vì sao TS. Cấn Văn Lực gọi IFC tại TP. Hồ Chí Minh là “cơ hội kim cương”?

Nghị quyết 260 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù cùng định hướng xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) không đơn thuần là một gói ưu đãi mới dành cho thành phố lớn nhất cả nước. Theo TS. Cấn Văn Lực, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia, thì đây là bước chuyển chiến lược nhằm tái định vị vai trò của TP. Hồ Chí Minh trong chuỗi tài chính – thương mại khu vực, đồng thời mở ra “cơ hội kim cương” để Việt Nam bước sang mô hình tăng trưởng mới.

TP. Hồ Chí Minh - “đầu tàu” nhưng chưa tạo được vị thế tương xứng

Dẫn từ kết quả khảo sát mới nhất của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về năng lực cạnh tranh của 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập. Theo đó, dù tiếp tục giữ vai trò trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước với khoảng 24% GDP, hơn 30% thu ngân sách quốc gia, hơn 21% vốn FDI và khoảng 21% kim ngạch xuất khẩu, TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa lọt nhóm “xuất sắc” về năng lực cạnh tranh mà chỉ dừng ở nhóm “khá”.

Điều này phản ánh một nghịch lý, quy mô kinh tế rất lớn nhưng hiệu quả vận hành thể chế và môi trường kinh doanh chưa thật sự tương xứng với vị thế đầu tàu.

Dẫu vậy, TP. Hồ Chí Minh lại đứng đầu cả nước về môi trường phát triển kinh tế tư nhân. Theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV và Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia, thì đây là tín hiệu cho thấy cộng đồng doanh nghiệp thành phố vẫn giữ được tinh thần năng động, đổi mới và khả năng thích ứng mạnh mẽ.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV và Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia
TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV và Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia.

Tuy nhiên, những khó khăn hiện hữu vẫn đang đè nặng lên doanh nghiệp. Kết quả khảo sát của VCCI cho thấy 5 áp lực lớn nhất hiện nay gồm: tìm kiếm khách hàng, tiếp cận vốn, cơ chế chính sách thiếu tính dự báo, thủ tục hành chính còn phức tạp và năng lực nội tại doanh nghiệp chưa đủ mạnh.

“Doanh nghiệp hiện nay khó cả đầu vào lẫn đầu ra. Vốn vẫn là áp lực rất lớn, trong khi cơ chế thay đổi quá nhanh khiến doanh nghiệp khó thích ứng”, ông nói.

Đáng chú ý, sau gần 3 năm triển khai Nghị quyết 98, TP. Hồ Chí Minh mới khai thác được khoảng 38% các cơ chế ưu đãi được trao. Theo TS. Cấn Văn Lực, điều này cho thấy “chiếc áo cơ chế” cũ đã trở nên chật hẹp trước tốc độ phát triển và yêu cầu mới của thành phố.

Nghị quyết 260 - Chiếc áo mới "vừa vặn" và quyền năng hơn

Nếu Nghị quyết 98 được xem là bước mở đường, thì Nghị quyết 260 chính là giai đoạn tăng tốc với mức độ phân quyền mạnh hơn rất nhiều.

Theo TS. Cấn Văn Lực, tinh thần cốt lõi của nghị quyết là “phân cấp, phân quyền hết cỡ” cho TP. Hồ Chí Minh trong quản lý đầu tư, tài chính ngân sách, quy hoạch, đất đai và huy động nguồn lực.

Một trong những thay đổi quan trọng nhất là cơ chế phát triển đô thị theo mô hình TOD – phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng. Với cơ chế mới, Thành phố được giữ lại 100% phần chênh lệch và lợi nhuận từ các dự án TOD để tái đầu tư thay vì phải điều tiết về Trung ương. “Đây là nguồn lực cực kỳ lớn cho thành phố trong tương lai”, ông nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, cơ chế xây dựng Khu thương mại tự do (FTZ) cũng mở ra không gian phát triển hoàn toàn mới. Thành phố được chủ động thu hồi đất, tái định cư, triển khai các chính sách thuế quan và hải quan linh hoạt hơn để phát triển logistics, cảng biển, thương mại quốc tế và dịch vụ tài chính đi kèm.

Nghị quyết 260 còn tạo “luồng xanh” cho nhà đầu tư chiến lược với 11 nhóm lĩnh vực ưu tiên.
Nghị quyết 260 còn tạo “luồng xanh” cho nhà đầu tư chiến lược với 11 nhóm lĩnh vực ưu tiên.

Đặc biệt, Nghị quyết 260 còn tạo “luồng xanh” cho nhà đầu tư chiến lược với 11 nhóm lĩnh vực ưu tiên. Các dự án quy mô lớn từ 3.000 – 10.000 tỷ đồng sẽ được rút ngắn đáng kể thủ tục đầu tư.

Theo TS. Cấn Văn Lực, đây là thay đổi rất quan trọng bởi trước đây TP. Hồ Chí Minh thường mất quá nhiều thời gian cho quy trình xin ý kiến và phê duyệt. Một trong những điểm được ông đánh giá là “đột phá về tư duy quản trị” chính là cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.

Lần đầu tiên, một nghị quyết cho phép xem xét miễn hoặc loại trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện nhiệm vụ với “tâm sáng”, nếu phát sinh rủi ro khách quan. “Điều này rất quan trọng để tháo gỡ tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm trong bộ máy”, ông nói.

Vì sao TP. Hồ Chí Minh buộc phải có Trung tâm Tài chính Quốc tế?

Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, TS. Cấn Văn Lực đặc biệt lưu ý, Việt Nam cần một lượng vốn khổng lồ. Các tính toán cho thấy từ nay đến năm 2030, Việt Nam cần khoảng 280 tỷ USD vốn đầu tư mỗi năm. Riêng TP. Hồ Chí Minh cần khoảng 50 – 60 tỷ USD/năm để duy trì tốc độ tăng trưởng 10 – 11%.

Trong khi đó, nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Hiện vốn tín dụng chiếm khoảng 51% tổng nguồn vốn của nền kinh tế – mức được xem là thiếu bền vững và tạo áp lực lớn cho hệ thống ngân hàng.

“Không thể tiếp tục để ngân hàng gánh gần như toàn bộ nhu cầu vốn của nền kinh tế”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh. Theo ông, IFC ra đời không phải để “ghi danh” trên bản đồ tài chính thế giới, mà quan trọng hơn là tạo ra một cấu trúc huy động vốn mới cho Việt Nam. Trong tương lai, thị trường vốn gồm cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư và các định chế tài chính quốc tế phải đóng vai trò lớn hơn nhiều so với hiện nay.

IFC ra đời không phải để “ghi danh” trên bản đồ tài chính thế giới, mà quan trọng hơn là tạo ra một cấu trúc huy động vốn mới cho Việt Nam.
IFC ra đời không phải để “ghi danh” trên bản đồ tài chính thế giới, mà quan trọng hơn là tạo ra một cấu trúc huy động vốn mới cho Việt Nam.

TS. Cấn Văn Lực cho biết, hiện vốn huy động qua thị trường cổ phiếu của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 3,4% tổng vốn cho nền kinh tế, còn trái phiếu doanh nghiệp khoảng 10%. Đây là tỷ lệ quá thấp so với nhu cầu phát triển.

“Chúng ta phải tăng gấp đôi tỷ trọng vốn từ thị trường vốn thì nền kinh tế mới bền vững hơn”, ông nói.

IFC sẽ vận hành theo cơ chế “mở” nhưng có kiểm soát

Theo mô hình đề xuất, Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh sẽ hoạt động theo ba luồng tài chính. Thứ nhất là, dòng vốn giữa IFC với thị trường quốc tế. Đây là khu vực có mức độ mở rất cao, áp dụng cơ chế hậu kiểm nhằm thu hút dòng vốn toàn cầu.

Thứ hai là, giao dịch nội bộ giữa các thành viên trong IFC như ngân hàng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư hay tổ chức bảo hiểm. Thứ ba là, dòng vốn từ IFC đi vào nền kinh tế trong nước. Phần này vẫn phải tuân thủ các quy định hiện hành nhằm đảm bảo an toàn tài chính quốc gia.

TS. Cấn Văn Lực cho rằng, Việt Nam không thể “mở toang” hoàn toàn bởi điều đó có thể dẫn đến nguy cơ khủng hoảng tài chính như nhiều nước châu Á từng trải qua năm 1997.

Điểm đáng chú ý là IFC sẽ không chỉ tập trung vào các dịch vụ tài chính truyền thống mà còn hướng tới tài chính xanh, tín chỉ carbon, tài chính hàng hải, logistics và các mô hình tài sản số hóa.

Trong đó, mô hình tokenization – mã hóa tài sản, được đánh giá là hướng đi giàu tiềm năng.

Theo ông, thay vì một tài sản bất động sản trị giá hàng chục tỷ đồng chỉ dành cho số ít người có tiềm lực tài chính lớn, tài sản đó có thể được “chia nhỏ” thành nhiều phần sở hữu để hàng trăm nhà đầu tư cùng tham gia. Đây được xem là giải pháp giúp kích hoạt nguồn vốn rất lớn đang nằm trong dân, bao gồm tiền gửi tiết kiệm và vàng, hiện tương đương khoảng 37% GDP.

“Điểm nghẽn” lớn nhất vẫn là chất lượng doanh nghiệp

Dù đánh giá triển vọng rất tích cực, TS. Cấn Văn Lực cho rằng thách thức lớn nhất của TP. Hồ Chí Minh không nằm ở cơ chế mà nằm ở năng lực thực thi và chất lượng doanh nghiệp. Theo ông, vận hành một trung tâm tài chính quốc tế đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ quốc tế, khả năng ngoại ngữ tốt, tư duy chuyên nghiệp và tinh thần thượng tôn pháp luật.

“Không thể làm việc theo kiểu cũ trong môi trường tài chính quốc tế”, ông nhấn mạnh. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn còn yếu về minh bạch tài chính, quản trị rủi ro và năng lực chuyển đổi số.

Một thực tế đáng lo ngại được TS. Cấn Văn Lực đưa ra là tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới hiện chỉ dưới 9%, trong khi mức bình quân thế giới khoảng 28%.

“Chúng ta đang chậm trong cuộc đua công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, ông cảnh báo.

Để đạt mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030, tốc độ tăng trưởng kinh tế số của Việt Nam phải đạt khoảng 20 – 25% mỗi năm, một mức tăng trưởng đòi hỏi sự thay đổi rất mạnh từ cả doanh nghiệp lẫn hệ thống quản trị.

“Cơ hội sáng sủa nhất trong lịch sử”

Tuy nhiên, vị chuyên gia này cũng cho rằng TP. Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn có điều kiện phát triển thuận lợi nhất từ trước đến nay, cơ chế đặc thù mạnh hơn, quyền tự chủ lớn hơn, quyết tâm chính trị rõ ràng hơn và không gian phát triển rộng hơn.

Bên cạnh đó, ông nhận định cơ hội sẽ không tự chuyển hóa thành tăng trưởng nếu doanh nghiệp và bộ máy quản lý không thay đổi tư duy. “Cơ hội bây giờ sáng sủa hơn bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử. Nếu chúng ta không nắm bắt thì sẽ không ai làm thay, không ai chờ đợi chúng ta”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.

Trong bối cảnh đó, TP. Hồ Chí Minh không chỉ đang theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế đơn thuần, mà đang bước vào một cuộc tái cấu trúc toàn diện: từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang kinh tế số, đổi mới sáng tạo và tài chính toàn cầu.

Và nếu tận dụng được “cơ hội kim cương” này, Thành phố có thể không chỉ là trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, mà còn trở thành một cực tài chính mới của khu vực châu Á trong những thập niên tới.

Tin bài khác
TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính cho rằng du lịch phục hồi, hạ tầng được đầu tư và chính sách dần tháo gỡ đang tạo nền tảng để bất động sản nghỉ dưỡng lấy lại niềm tin giai đoạn 2026-2027.
Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được, luật sửa đổi cần chuyển từ tư duy “có chính sách” sang bảo đảm doanh nghiệp biết được hỗ trợ gì, hỏi ai, hồ sơ ra sao và bao lâu có câu trả lời. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã trao đổi cùng ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng xung quanh vấn đề này.
TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

Theo TS. Nguyễn Văn Đính, quy định thời hạn chung cư cần được hiểu là công cụ quản lý vòng đời công trình, không phải giới hạn quyền sở hữu, nhằm đảm bảo an toàn và minh bạch thị trường.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn cảnh báo những xung đột pháp lý trong dự thảo luật mới đang làm tắc nghẽn giao dịch, đồng thời đề xuất giải pháp thực tiễn nhằm khơi thông thị trường bất động sản.
PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung nhấn mạnh Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi phải lấy số hóa, tài chính hóa làm trụ cột, đồng thời xử lý triệt để xung đột với Luật Đất đai.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh sửa Luật Kinh doanh bất động sản phải hướng tới kiến tạo thị trường minh bạch, khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả phân bổ và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương cho rằng dữ liệu số là nền tảng cốt lõi giúp thị trường bất động sản minh bạch, giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng sức hút vốn dài hạn.
Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, phía sau kết quả đó là nghịch lý khi phần lớn nguyên liệu vẫn được bán dưới dạng dăm gỗ và viên nén, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo lại thiếu gỗ nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân,việc xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM được kỳ vọng mở ra kênh huy động vốn dài hạn, giúp Việt Nam nâng cấp mô hình tăng trưởng và tiến gần hơn tới mục tiêu bứt phá kinh tế.
AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

Từ kinh nghiệm điều hành một doanh nghiệp Việt Nam, bà Phạm Thị Thu Hằng - Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc 5S Media đề xuất mô hình ba vai trò và lộ trình năm bước giúp DNNVV biến AI từ công cụ tạo hiệu suất ngắn hạn thành năng lực vận hành có thể duy trì, nhân rộng và tạo giá trị lâu dài.
Doanh nghiệp nhà nước được định vị là lực lượng mở đường cho tăng trưởng mới

Doanh nghiệp nhà nước được định vị là lực lượng mở đường cho tăng trưởng mới

Trong bối cảnh nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới, doanh nghiệp nhà nước được xác định không chỉ bảo đảm vai trò chủ đạo mà còn phải tiên phong đầu tư vào các lĩnh vực nền tảng, tạo lập thị trường mới và dẫn dắt đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
TS. Nguyễn Trí Hiếu: Vàng mất sức hút khi lãi suất cao, dòng tiền đang dịch chuyển mạnh

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Vàng mất sức hút khi lãi suất cao, dòng tiền đang dịch chuyển mạnh

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, giá vàng giảm sâu, lãi suất tăng mạnh và khủng hoảng niềm tin khiến dòng tiền rời bỏ kim loại quý, xu hướng này còn có thể kéo dài.
Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Áp lực giảm phát thải và đáp ứng hàng rào kỹ thuật quốc tế đang đẩy hàng ngàn doanh nghiệp vào cuộc đua đổi mới công nghệ. Dù nhu cầu vốn xanh cho mục tiêu Net Zero lên tới 368 tỷ USD, nhưng rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt nguồn cung tiền, mà ở năng lực chứng minh hiệu quả kinh tế của chính doanh nghiệp.
Gỡ rào cản pháp lý an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp nhỏ

Gỡ rào cản pháp lý an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp nhỏ

Không ít vi phạm về an toàn thực phẩm của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh hiện nay không đến từ hành vi cố tình mà bắt nguồn từ việc thiếu thông tin và bất cập trong áp dụng quy định mới. Để gỡ rào cản này, Bộ Tư pháp đã phối hợp cùng cơ quan chức năng thành phố Đà Nẵng tổ chức hội nghị đối thoại trực tiếp, giúp cộng đồng kinh doanh nhận diện rủi ro và tuân thủ chuẩn mực ngay từ gốc.
Tái cấu trúc thị trường vốn để giảm lệ thuộc tín dụng, hướng tăng trưởng bền vững

Tái cấu trúc thị trường vốn để giảm lệ thuộc tín dụng, hướng tăng trưởng bền vững

Theo ông Nguyễn Sơn – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cấu trúc vốn mất cân đối khi tín dụng chiếm ưu thế lớn đang tiềm ẩn rủi ro. Việt Nam cần phát triển mạnh thị trường vốn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dài hạn.